Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 4

Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.

- Nhìn từ xa, cây bàng một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh t¬ươi.

- Những trái chuối cong cong vầng trăng khuyết.

- Những chiếc gai những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công chúa hoa hồng.

 Ở dạng bài này h¬ướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như¬, giống như¬, tựa, tựa nh¬ư, tựa hồ, như¬ là, giống hệt.

 

doc25 trang | Chia sẻ: dungnc89 | Ngày: 27/03/2017 | Lượt xem: 694 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 4, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 lá.
- Hoa hồng đẹp (lộng lẫy) cánh hoa đỏ (thắm), mịn (như nhung).
- Mùa hè đến, hàng trăm, hàng nghìn cánh phượng như đang (phả lửa) lên trời.
- Bầu trời xanh (thăm thẳm), mây trắng (bồng bềnh) trôi.
- Cây cao (cao vút).
- Gió thổi (rì rào) trong đám lá.
- Mào của trống ta y hệt một bông hoa đỏ (chon chót)
- Những quả cam (vàng óng), da (căng mọng) như mời gọi người đến thưởng thức.
- Đôi mắt (long lanh như thuỷ tinh), lúc nào cũng (liến láu) nhìn quanh.
Việc chọn từ điền vào câu văn, giáo viên nên để học sinh thoải mái, không ép hay áp đặt. Sau mỗi lần để học sinh chọn điền tôi cũng để học sinh khác bình luận, nhận xét xem câu nào hay hơn. Các em học chưa tốt môn văn có thể học hỏi được nhiều từ, câu của các bạn giỏi. Bài tập này đa dạng, dễ cho ví dụ. Giáo viên nên khuyến khích và động viên làm tốt. Nếu với những câu quá khó giáo viên có thể gợi ý.
Với dạng bài này tôi cho các em luyện tập ở các tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”, tiết “Hướng dẫn học” giúp các em lựa chọn các câu văn hay để viết đoạn văn, vừa khiến cho các em thoải mái trong giờ học, vừa nhớ lâu.
3. Dạy viết câu có kết cấu đơn giản.
 Tháp cao nào cũng phải xây dựng từ dưới mặt đất. Để viết được những câu văn mang tính nghệ thuật trong kết cấu, trước tiên học sinh cần nắm được câu trong dạng đơn giản nhất, đó là những dạng câu học sinh đã được học: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?... câu khiến, câu hỏi, câu cảm.
 Dạy những loại câu này đối với học sinh không khó. Ta chỉ cần hướng dẫn tốt qua tiết Luyện từ và câu. Xác định các yêu cầu cơ bản học sinh cần nắm được, và thường xuyên củng cố thật nhiều.
 Câu phải có hai bộ phận chính: Chủ ngữ và vị ngữ.
- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì? Vật gì?
- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Như thế nào? Là gì?
 Đi đôi với việc dạy lý thuyết tôi cho học sinh luyện viết câu, phân tích thật nhiều, lấy ngay các từ học sinh tích luỹ được trong tiết Tập đọc để đặt câu:
 Ví dụ: Sau khi học xong bài Tập đọc “ Sầu riêng” Tiếng việt 4 tập 2:
+ Học sinh cần tích luỹ từ: ngọt ngào, quyến rũ, quyện.
+ Đặt câu và phân tích:
 Dạ hượng / ngọt ngào lan toả khắp khu vườn
 CN VN
 Vườn hoa / quyến rũ lũ ong bướm rập rờn bay đến
 CN VN
 Mít chín / thơm nồng, ngọt sắc như vị của trứng gà quyện với mật ong già 
 CN VN
 Cứ như vậy, luyện tập nhiều sẽ giúp học sinh có một kiến thức vững chắc về câu.
4. Dạy viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp.
 Nếu một bài văn chỉ viết bằng một loại câu thì sẽ gây ra đơn điệu, không hấp dẫn người đọc. Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho những “mầm non văn học”. Tuy nhiên ta không bắt buộc học sinh tiếp thu những gì quá phức tạp không phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Một số dạng câu có thể dạy là:
- Câu có trạng ngữ.
- Câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.
a. Với câu có trạng ngữ.
 Đâu tiên tôi nên cho học sinh tiếp xúc với các loại câu này, tập tìm chủ ngữ, vị ngữ.
Trên vòm cây, chim hót líu lo.
 Học sinh rất dễ nhầm lẫn “Trên vòm cây” là chủ ngữ nếu chưa tiếp xúc với loại câu này. Bởi vậy, tôi cho học sinh đặt câu hỏi:
+ Con gì hót líu lo? ( con“ chim” vậy “ chim” là chủ ngữ).
+ Con chim làm gì? (“hót líu lo” vậy “hót líu lo” là vị ngữ).
Vậy “Trên vòm cây” là bộ phận gì? học sinh sẽ rút ra đó là bộ phận phụ nói rõ chim hót ở đâu.
Tương tự như vậy tôi hướng dẫn học sinh hiểu về trạng ngữ chỉ thời gian, nguyên nhân, mục đích, nơi chốn để học sinh có thể đặt câu: 
Ví dụ:- Ngoài vườn, khóm hồng toả hương thơm ngào ngạt.
- Để chăm sóc con, chị gà cần mẫn bới đất tìm thức ăn. 
- Từ trong kẽ lá, những nụ hồng lấp ló trông thật xinh.
b. Câu có nhiều chủ, vị.
Tôi hướng dẫn học sinh thay thế nhiều câu thành một câu.
Ví dụ: Cánh hoa đỏ thắm, mịn như nhung.
Bằng cách làm này, bài văn sẽ không bị lặp lại từ và bớt đi sự cứng nhắc khô khan kể lể. Học sinh viết câu văn hấp dẫn hơn.
- Hoa lan, hoa cúc, hoa huệ đua nhau khoe sắc.
- Đóa hồng hồn nhiên, rực rỡ căng đầy sức sống.
- Chú mèo cuộn mình, lăn tròn như quả bóng.
- Chiếc cặp tuy giản dị, mộc mạc nhưng rất tiện lợi.
Sau khi được tập luyện nhiều, học sinh có thói quen kết hợp ý để diễn đạt. Bài văn không rời rạc, khô khan bởi chỉ được viết từ các câu đơn. 
5. Dạy các biện pháp nghệ thuật.
Muốn bài văn hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật. Học sinh lớp 4 kiến thức về lĩnh vực này còn hiểu lơ mơ, hời hợt. Nếu giáo viên không dạy, học sinh khó mà nắm bắt được. Để đưa nghệ thuật vào trong văn có rất nhiều biện pháp. Nhưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biện pháp nghệ thuật phù hợp nhất là so sánh và nhân hóa.
A. Biện pháp so sánh.
Tôi đã hướng dẫn học sinh tìm các câu có các biện pháp so sánh trong các bài Tập đọc đã học. 
 Ví dụ: 
- Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ.
- Hoa cẩm chướng là ngôi sao màu trên vòm trời xanh lục giữa vườn.
- Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ngọn nến trong 
xanh.
- Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn .
- Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con.
- Những tán hoa lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
- Với những cánh tay quều quào xoè rộng, nó như con quái vật già nua cau có và khinh khỉnh giữa đám bạch dương tươi cười.
- Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đó thả hàng vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời xanh biếc chi chít cành và xoay thành những tán tròn quanh thân cây. 
Với những câu văn này tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc được biện pháp so sánh bằng cách sau:
Ví dụ: Câu “Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia nắng vàng rực rỡ”. Tôi phân tích cách sử dụng biện pháp so sánh, tác giả lấy hình ảnh mặt trời để tả bông hướng dương. 
 	Để thấy được tính ưu việt của biện pháp nghệ thuật này tôi lấy một câu khác để mô tả bông hướng dương.
 	“Bông hướng dương rất to, màu vàng, có rất nhiều cánh nhỏ”. Và yêu cầu học sinh nhận xét xem câu nào hay hơn. Dĩ nhiên là câu thứ nhất, 100% học sinh được hỏi đều trả lời như vậy. “Hay hơn vì sao?”. Các em trả lời: “Vì sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh”. Muốn các em vững vàng hơn về cách so sánh tôi lại đưa ra một câu văn nữa.
“Bông hướng dương như chiếc đĩa màu vàng”
 	Yêu cầu học sinh nhận xét, so sánh với câu thứ nhất. Khi các em khẳng định câu thứ ba không hay bằng câu đầu, tôi đặt câu hỏi: 
“Tại sao cả hai câu đều sử dụng biện pháp so sánh mà câu đầu lại hay hơn?” và giải thích “ở câu thứ nhất, tác giả dùng hình ảnh mặt trời đang toả nắng” một hình ảnh đẹp, sinh động và rất độc đáo để so sánh vì vậy đã làm cho bông hướng dương tươi đẹp hẳn lên. Còn câu thứ ba so sánh với cái đĩa có đặc điểm giống bông hướng dương song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của bông hoa. Từ đó giúp học sinh hình thành sự hiểu biết. Khi so sánh muốn làm cho một sự vật đẹp hơn phải so sánh với sự vật khác giống nhưng đẹp hơn, có những nét độc đáo, nổi bật hơn và ngược lại.
 Việc này học sinh phải được luyện tập thường xuyên, vì nếu không luyện tập thì các kiến thức đó cũng mai một dần. Sau đây là một vài dạng bài tập mà tôi đã xây dựng trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”:
a. Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.
 So sánh như vậy giúp các em cảm nhận được điều gì mới mẻ của sự vật?
Thân dừa bạc phếch tháng năm.
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.
Đêm hè, hoa nở cùng sao.
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu.
Dạng bài này không khó đối với học sinh nhưng không phải học sinh nào cũng cảm nhận được cái đẹp cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉ nhận ra hình ảnh so sánh.
b. Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.
- Nhìn từ xa, cây bàng một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh tươi.
- Những trái chuối cong cong vầng trăng khuyết.
- Những chiếc gai những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công chúa hoa hồng.
 	 Ở dạng bài này hướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như, giống như, tựa, tựa như, tựa hồ, như là, giống hệt.
c. Hãy thêm vế câu để được hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống để mỗi dòng dưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.
- Lá cọ tròn xoè ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như (bàn tay vẫy hoặc một mặt trời mới mọc)
- Hoa bỏng treo lủng lẳng từng chùm trên cây như (những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hoặc chùm quả).
- Ngựa lao nhanh trên đường đua tựa như (những mũi tên bay trong gió hoặc những viên đạn rời khỏi lòng súng).
- Đôi cánh mẹ gà xoè ra như (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) che chở cho các chú gà con.
- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là (ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con hoặc ngôi sao dẫn 
đường cho con đi lên phía trước).
- Nụ hồng trông giống hệt những (chiếc tháp) bé bé, xinh xinh.
 Với dạng bài này tôi giúp học sinh thường xuyên luyện tập chọn từ điền thoải mái, không áp đặt. Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khen học sinh chọn từ để cho học sinh hứng thú học văn.
d. Tập so sánh.
 	Nâng cao hơn, tôi yêu cầu các em tìm hình ảnh so sánh và tự diễn đạt câu. Tôi đưa ra những sự vật ví dụ như: 
- Hoa thược dược, hoa cẩm chướng, hoa loa kèn, hoa xoan.
- Con đường, bãi cỏ, đồng lúa chín.
- Tàu dừa, vầng trăng (tròn, khuyết), mặt hồ.
 	 Loại bài tập này khó hơn, nó đòi hỏi học sinh có trí tưởng tượng phong phú lẫn kĩ năng diễn đạt mới có thể chọn ra những câu văn hay. Bởi vậy, tôi thường đưa ra những câu tham khảo khi học sinh đã trình bày hết ý kiến mà vẫn chưa có được những câu văn có thể tích luỹ được để làm tư liệu. Ví dụ:
- Hoa xoan bồng bềnh như một chùm mây tim tím ngủ quên trên cành.
- Bãi cỏ như một tấm thảm khổng lồ xanh mơn mởn.
- Đồng lúa chín y hệt một biển vàng.
- Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương lớn in sắc mây, trời.
- v.v.
 Cứ với cách làm như vậy thì trí tưởng tượng của học sinh sẽ ngày một phong phú, khả năng diễn đạt câu văn cũng ngày càng một nâng cao. Trong các bài viết, đưa biện pháp mô tả vào để so sánh một việc làm dễ dàng đối với học sinh.
B. Biện pháp nhân hóa.
Đây là biện pháp quen thuộc với các em. Các em được tiếp xúc từ khi còn trong vòng tay bế bồng của mẹ qua những lời ru cái cò, cái ốc. Rồi những câu chuyện cổ tích của bà, của cô giáo, các em đã được tiếp xúc với cả một thế giới phong phú của nghệ thuật nhân hoá. Không cần phải dạy nhiều, ta chỉ cần giới thiệu học sinh sẽ nhanh chóng nắm được ngay.
 	 Để học sinh thấy được sự ưu việt của biện pháp nghệ thuật này, tôi đã cho các em so sánh các cặp ví dụ cụ thể:
 1. Thân chuối màu đen khô ráp vì nắng gió.
 2. Chị chuối thật giản dị trong bộ áo đen khô ráp vì nắng gió.
 1. Gà Mái Mơ nuôi con rất khéo.
 2. Chị gà Mái Mơ dịu hiền chăm sóc con thật khéo léo.
 1. Những con gà chạy lung tung khắp nơi.
 2. Những bé gà hiếu động tung tăng chạy khắp nơi.
 1. Gốc hồng màu đen xám.
 2. Gốc hồng như một người mẹ già đi trong bộ áo xám đen nhường sắc non xanh cho hoa, cho lá.
 1. Bông hồng nhung vươn cao.
 2. Cô hồng nhung kiêu hãnh vươn cao, hình như nó rất tự hào với sắc đẹp của mình.
 1. Nắng chiếu đầy vòm lá.
 2. Những tia nắng tinh nghịch đùa trên vòm lá.
 v.v .
 	Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung một câu 
trả lời: Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.
 “ Nó hay hơn vì sao?”. Nhiều học sinh lúng túng trước câu hỏi này. Tôi nghĩ giáo viên cần lí giải: Câu thứ 2 hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa: Chị Mái Mơ, chị chuối, bé gà, cô hồng nhung trở nên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy nghĩ, tính cách của con người.
 	Sau khi các em nắm bắt được tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệu cho các em cách nhân hoá sự vật.
a. Gọi tên sự vật.
Chúng ta có thể gọi tên sự vật như khi gọi tên người: Cô trăng, chị gió, bác mặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, bác mèo mướp, chị chuối tiêu.
b. Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật.
- Hoa quỳnh trầm tư.
- Đào bích cười tươi roi rói.
- Phong lan yểu điệu.
- Chị Mái Mơ hiền lành.
- Những bé gà ngơ ngác.
- Nắng nhảy nhót.
- Trăng tinh nghịch nhòm qua cửa sổ.
- Quyển vở sung sướng, hãnh diện khoe điểm 10 đỏ chói v.v.
 	Song song với việc giới thiệu, tôi thường dành thời gian đọc cho các em nghe những câu chuyện có sử dụng nhiều biện pháp nhân hoá như: Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa, Hai con ngỗng của nhà văn Tô Hoài (tiến hành vào tiết Sinh hoạt tập thể, Kể chuyện).
 Nhắc học sinh liên tưởng đến các câu chuyện cổ tích có các con vật đáng yêu 
thông minh, tinh nghịch. Đó là những câu mẫu mực cho học sinh tập,để nắm được cách sử dụng biện pháp nghệ thuật này.
 	Học sinh có được sự hiểu biết rõ ràng về biện pháp nghệ thuật này ta cho các em luyện tập ngay một số dạng bài tập:
1. Tập nhân hoá các con vật, cây cối, đồ vật xung quanh bằng cách 1 hoặc cách 2?
2. Nêu tâm trạng của các loài hoa vào mùa xuân?
3. Tưởng tượng ra cuộc trò chuyện của bầy chim, những chú chó, mèo?
4. Chị Mái Mơ rất giống một người mẹ hiền. Em hãy tưởng tượng những cử chỉ, lời nói, việc làm của chị chứng tỏ điều đó?
Dựa vào những câu chuyện đã được nghe, những bộ phim hoạt hình đã được xem thì những bài tập trên không khó lắm đối với học sinh. Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý chủ đề viết. Có thể gợi ý học sinh như sau: 
- Bác mặt trời toả tia nắng ban mai hồng tươi.
- Chị gió tinh nghịch nô đùa cùng đám lá.
- Mèo mướp lười biếng nằm sưởi nắng ở dưới sân.
- Cô gà mái đảm đang dẫn đàn con đi kiếm mồi.
- Chị chim sâu chăm chỉ lách chách chuyền cành.
- Hồng nhung lộng lẫy trong chiếc áo đỏ thắm mịn màng.
- Cúc vàng ủ rũ nhìn các bạn đi hội xuân. Nó không còn bộ quần áo nào lành lặn cả.
- Hễ kiếm được miếng mồi nào chị Mái Mơ cũng lục tục gọi bầy con đến nhường cho chúng.
- Chị dang đôi cánh ấm áp ủ bầy con nhỏ.
- Từ ngày nuôi lũ con, bộ lông chị gà cứ xơ xác hẳn đi.
- Chị gà rất giàu kinh nghiệm, chị chẳng bao giờ dẫn đàn con đến gần rãnh nước.
 	Bằng cách luyện tập này thì việc vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài tiến bộ rõ rệt .Câu trả lời này, tôi sẽ minh hoạ bằng bài văn của các em ở phần sau.
 	Trên đây là các bước “dạo đầu” giúp các em có một vốn văn học nhất định phục vụ cho việc viết bài. Học sinh sử dụng các “viên gạch” đó xây nền các “ngôi nhà” như thế nào mới quan trọng. Muốn có bài văn hay cần gì trong tiết dạy? Tôi xin trả lời bằng nội dung của phần 2 đề tài.
II. DẠY VIẾT BÀI VĂN.
Mục tiêu lớn nhất của việc dạy văn là chất lượng của bài viết. Một bài viết hay là một bài văn được kết hợp hài hoà nhiều yếu tố: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao để bài văn của học sinh cần có tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy trong mỗi tiết làm văn ta tập chung giải quyết 3 nhiệm vụ. 
1. Xây dựng nội dung.
 	Phong phú về nội dung là yêu cầu đầu tiên của một bài viết tốt. Giải quyết nhiệm vụ này tương đối khó nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ. Khi dạy, giáo viên cần 
lưu ý hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa vì chương trình văn được soạn cho trình độ phổ cập, đối với lớp khá ta có thể bổ sung thêm. Đích đầu tiên học sinh cần đạt là phải hoàn thiện về bố cục (có 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài) ý phong phú có trọng tâm.
 	Khi đã hoàn thiện về bố cục. Tôi tiếp tục chú ý đến nội dung bài văn. Muốn bài văn phong phú học sinh phải biết cách trả lời câu hỏi. Thường mỗi câu hỏi học sinh phải trả lời bằng một đoạn văn chứ không phải một câu cộc lốc. Ví dụ như câu hỏi:
- Thân cây thế nào? (trong bài quan sát cây hoa hồng). Tôi không bằng lòng với câu trả lời kiểu: “Thân cây khẳng khưu, cành đâm ra mọi phía”. Cao hơn, tôi đòi hỏi ở học sinh sự quan sát tỉ mỉ (màu sắc, độ cao, to, cách bố trí, các cành, cành non, cành già, gai) và trả lời bằng một đoạn văn.
- Thân cây thâm thấp, màu xanh tươi. Cành cây khẳng khưu đan chéo vào nhau, vươn ra mọi phía. Đôi ba mầm non mới trồi lên mập mạp đầy sức sống. Rải rác trên cành lá những chú gai nhọn hoắt đứng nghiêm trang như những chú lính gác cho nàng công chúa hoa hồng .
Rèn luyện thói quen quan sát nhiều góc cạnh của sự vật sẽ giúp học sinh có 
được những bài văn “giàu ý”. Tuy nhiên không thể dàn trải mênh mông mà bài văn phải có trọng tâm. Học sinh biết lựa chọn chi tiết nổi bật, lướt qua chi tiết phụ để viết sâu dùng “từ đắt”. Ví dụ bài: Tả cây hoa hồng thì phải tả kĩ. Nhìn tổng thể hoa trên cây, nhìn chi tiết từng bông: Bông nở to, bông chúm chím, nụ. Phát hiện vẻ đẹp riêng của chúng, so sánh chúng. Quan sát kĩ từng cánh hoa, cách cấu tạo và điều quan trọng nhất là phải làm nổi bật hình ảnh loài hoa, cây hoa mình quan sát.
2. Đưa nghệ thuật vào bài văn.
 	Nói đến nghệ thuật ta có cảm giác nó cao siêu và xa vời với học sinh Tiểu học. Nhưng cái “nghệ thuật” ở các em chỉ đơn giản là việc chọn lọc từ ngữ, hình ảnh và sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa. Bởi vậy nó cũng rất gần gũi quen thuộc với các em vì các em đã có được cả một quá trình học tập và rèn luyện.
 	Trong quá trình tập diễn đạt nội dung, có thể gợi ý bằng các câu hỏi:
- Ta có thể tả màu sắc hoa hồng nhung bằng từ nào? (đỏ thẫm, đỏ thắm).
- Gốc hồng làm nhiệm vụ gì?
Tuy nó sần sùi màu nâu và khô cằn. Em có thể dùng biện pháp so sánh hay nhân hoá để làm nổi bật nét đẹp trong hình thức xấu xí của nó được không? (gốc cây như người mẹ giản dị trong bộ áo nâu xám. Nhường sắc xanh tươi cho lá, cho hoa).
- Những chiếc gai có thể nhân hóa được không? (Nhân hoá như những người lính).
- Tàu lá chuối có thể so sánh với cái gì? ( Cái quạt khổng lồ, tấm lụa màu xanh lục).
- Những quả chuối cong cong giống cái gì? (Vầng trăng khuyết).
Bằng cách gợi mở, dẫn dắt như vậy học sinh sẽ nêu ra những ý kiến của mình. Sau khi nghe phần trình bày của các em, tôi sẽ rút ra một số từ ngữ, hình ảnh, câu văn hay để cả lớp có thể học tập và đưa vào bài của mình.
3. Đưa cảm xúc vào bài văn.
Một bài văn hấp dẫn, gây ấn tượng với người đọc không thể thiếu “cảm xúc” của người viết. Cảm xúc không chỉ có ở phần kết luận. Nó phải được thấm đậm trong từng câu, từng lời của bài văn. Đối với học sinh nhỏ thì điều này thật là trừu tượng.
 	Bởi vậy ta không nên đòi hỏi các em một cách chung chung. Các em lồng được tình cảm của mình vào từng ý văn, giáo viên nên gợi ý cụ thể như sau:
- Hoa hồng đẹp đến khó tả được. Khi ngắm nhìn hoa em cảm thấy như thế nào? (Hoa đẹp lộng lẫy say đắm lòng người).
- Hương chuối chín thơm lừng gợi cho em cảm giác như thế nào? (Thèm được ăn ghê lắm).
- Được ăn trái ngon em có suy nghĩ gì về người trồng? (Biết ơn).
Tương tự như vậy ta cần “bắt” học sinh đưa ra những suy nghĩ, nhận xét cảm xúc của mình trước một vật, sự việc. Bài văn sẽ không đơn giản là sự liệt kê. Nó thấm đẫm các suy nghĩ, cảm xúc của người viết.
Kết hợp được 3 yếu tố trên: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc thì bài văn của học sinh cũng đạt tới một thành công lớn. Nó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho ta vun trồng những năm học tới.
4. Kết quả.
	Sau một năm nghiên cứu chương trình dạy Tập làm văn lớp 4. Bằng cả sự lao động nỗ lực của thầy và sự rèn luyện chăm chỉ của trò. Chất lượng học văn của lớp tôi nâng cao rõ rệt. Từ chỗ học sinh chưa viết được những bài văn gãy gọn, mạch lạc, các em đã xây dựng được những bài văn hay, câu văn giàu hình ảnh, điểm khá, điểm giỏi ngày càng nhiều. Tôi cũng xin đưa ra những bài văn điển hình của các học sinh lớp 
tôi.
*/ Bài số 1: Đề bài: Tả chiếc áo mà em thích?
Bài làm:
	Em có một tủ quần áo với rất nhiều quần áo đẹp. Nhưng em thích nhất chiếc áo trắng đồng phục mùa hè. Đây là chiếc áo, em được mẹ may cho từ đầu năm học.
	Đó là một chiếc áo sơ mi trắng tinh. Màu trắng tinh khôi của tuổi học trò, tuy giản dị nhưng với em nó thật đẹp. Quanh cổ và ống tay áo được trang trí thêm đường diềm kẻ sọc màu nâu xen lẫn 

File đính kèm:

  • docSKKN_LOP_4.doc
Giáo án liên quan