Sáng kiến kinh nghiệm Thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực học sinh

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ Giáo viên – Học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

 Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh ; giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa Giáo viên với Học sinh, giữa học sinh với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin ; chú trọng cả hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh. Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng

 

docx22 trang | Chia sẻ: Bình Đặng | Ngày: 07/03/2024 | Lượt xem: 24 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm Thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực học sinh, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu, thực hiện phương án thực nghiệm. Sau đó, các em sẽ xây dựng báo cáo kết quả nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
2.Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực.
2.1. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực
 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách.
 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy cao hơn.
 Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người..
2.2  Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực:
 Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ Giáo viên – Học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
 Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh ; giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa Giáo viên với Học sinh, giữa học sinh với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin; chú trọng cả hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh. Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng.
2.3 Phương pháp thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực học sinh
Thiết kế bài giảng là việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian...mà người dạy tổ chức cho người học chủ động thực hiện việc chiếm lĩnh tri thức khoa học
Phương pháp thiết kế bài giảng theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ trong bài giảng mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời chú ý trong quá trình thiết kế bài giảng gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu
Thực trạng.
 Thiết kế bài giảng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng mỗi tiết dạy- học góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Để đổi mới việc thiết kế bài giảng, đòi hỏi người thầy không chỉ có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen đã ăn sâu, bám rễ (một số thầy cô giáo viên nhiều năm bám theo chương trình cũ, phương pháp thiết kế bài giảng truyền thống đã ăn sâu vào nghiệp vụ sư phạm nên rất khó để dứt bỏ trong ngày một, ngày hai). Để đổi mới việc thiết kế bài giảng, đòi hỏi người thầy phải làm quen với công nghệ thông tin và những phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá, tiếp cận với những đòi hỏi mới về yêu cầu kiến thức, kĩ năng cũng như tâm lý của học trò, nắm vững các phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại.... Vì thế nhiều giáo viên ngại đổi mới trong công tác soạn giảng.
* Thuận lợi: 
Cán bộ giáo viên đã được tập huấn nghiệp vụ về phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh; các trường THCS hiện nay đã được trang bị máy vi tính và đèn chiếu (Projectore), ti vi tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng bài giảng được thiết kế vào thực tiễn
* Khó khăn:
 Một trong những điều kiện để áp dụng bài giảng là chúng ta cần đa dạng hóa và vận dụng nhuần nhuyễn các hình thức học tập: Học sinh làm việc cá nhân, thảo luận nhóm,  Với cơ sở vật chất hiện nay – bàn ghế cố định - thì việc tổ chức thảo luận nhóm cũng gặp một số khó khăn trong quá trình di chuyển 
Ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại vào việc áp dụng các bài giảng vào quá trình dạy học là một trong các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới PPDH theo quan điểm hiện đại nhưng hiện tại vẫn còn một số giáo viên vì trình độ ứng dụng CNTT còn hạn chế, hoặc chưa sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại nên còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại” khi đổi mới áp dụng. 
 	Với cách tổ chức thi cử - kiểm tra - đánh giá như hiện nay vẫn còn mang năng kiến thức hàn lâm. Vì vậy một số giáo viên rất ngại thay đổi nội dung dạy học, vì nếu kết quả kiểm tra đánh giá thấp nhà trường, phụ huynh lại đổ lỗi cho giáo viên dạy chưa tốt. Vì vậy một số giáo viên còn thiết kế, giảng dạy theo lối cũ, áp đặt
Giải pháp.
2.1 Giải pháp chung
Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh để góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết 29 - NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Tăng cường công tác kiểm tra việc đổi mới công tác soạn giảng của giáo viên, qua đó chấn chỉnh kịp thời những hạn chế thiếu sót của giáo viên
2.2 Giải pháp cụ thể: 
2.2.1 Các bước thiết kế một bài giảng theo hướng phát triển năng lực
I. Mục tiêu bài giảng
 1. Tại sao phải xác định mục tiêu bài giảng:
Mục tiêu bài giảng là một tuyên bố chính xác những gì mà người học có thể làm được sau bài giảng.
Các mục tiêu bài giảng giúp người dạy định hướng trong việc xác định các kết quả học tập: tức là những kiến thức, kỹ năng mà người học phải đạt được sau khi học xong, từ đó xác định những nội dung và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.
 2. Cách xác định mục tiêu bài giảng
Các mục tiêu bài giảng thường được cụ thể hóa bởi những yêu cầu về: Kiến thức kỹ năng và thái độ mà người học đạt được sau bài giảng.
Đó là những kết quả học tập cần đạt, là câu trả lời cho câu hỏi: “Người học phải có khả năng làm được gì vào cuối bài học?”
Mục tiêu phải được diễn đạt bằng những động từ có thể xác định được và đo đạc được, cần tránh những từ chung chung như: nắm được, hiểu được
Có các mức độ sau đây:
Kiến thức:
 - Biết: Nhắc lại được, kể tên được, trình bày được, diễn đạt được.
 - Hiểu: Giải thích được, chứng minhđược, phân tích được, nhận xét được, đánh giá được.
Kỹ năng: 
 -Làm (vận dụng được, lắp ráp được, vận hành được
 - Sáng tạo: Sáng tác được, cải tiến được.
Thái độ: trao đổi, hỏi, trả lời, đề xuất, tích cực
Mục tiêu phải được xem rõ ở các khía cạnh sau:
- Khả năng thực hiện.
- Chuẩn tối thiểu người học đạt được về 1 loại kỹ năng.
- Các điều kiện phục vụ cho việc học tập và kiểm tra đánh giá học sinh.
3.Tác dụng của việc xác định chính xác các kết quả học tập cần đạt
Giúp cho giáo viên lựa chọn PP giảng dạy và các tài liệu giảng dạy.
Là hướng dẫn cho giáo viên xây dựng các bài kiểm tra và các công cụ khác để đánh giá kết quả học tập của HS.
Giúp cho người học định hướng rõ ràng về kết quả học tập mà họ cần đạt được và lựa chọn PP học.
Tạo cơ sở đánh giá khóa học và kiểm soát chất lượng của quá trình học tập
II. Xác định nội dung bài giảng
1. Ý nghĩa của việc xác định nội dung bài giảng:
Giúp người giảng không bị chệch hướng vào những chi tiết vụn vặt và chủ động trong việc sắp xếp thời gian hợp lý cho những nội dung đó
2. Lập trình tự nội dung bài giảng
- Từ cái đã biết tới cái chưa biết.
- Từ cái đơn giản đến cái phức tạp.
- Từ VD cụ thể tới các quy tắc trừu tượng.

- Từ các nguyên tắc chung chung tới các ứng dụng cụ thể.
- Quan sát tới lập luận
- Tổng thể tới các bộ phận và từ bộ phận quay lại tổng thể.

3. Thiết kế bài giảng:
 a. Thiết kế phần mở bài
 Nên dành từ 3-5 phút cho phần giới thiệu với một bài giảng 45 phút
Cần giới thiệu mục tiêu bài giảng và cấu trúc bài giảng (những việc HS sẽ làm, nội dung cho HS biết) để họ chuẩn bị tinh thần.
 b. Thiết kế phần thân bài:
Giáo viên cần trả lời câu hỏi: “HS cần học nội dung gì để đạt được mục tiêu?”
Phải xác định nội dung bài giảng và quan trọng là xác định xem nội dung nào là thực sự quan trọng để HS đạt được những điều phải biết, nên biết và có thể biết.
 	Lập trình tự nội dung: Lập trình tự các hoạt đông như thế nào để tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động ht của HS.
 	Chọn các hoạt động để chuyển tải nội dung: Mỗi nội dung chọn 1-2 hoạt động.
Sau mỗi nội dung cần tóm tắt một số kiến thức cơ bản của nội dung đó.
 c. Thiết kế phần kết thúc bài giảng:
Các kết quả, ý kiến phản hồi, định hướng bài mới
Giáo viên tổng kết một cách cô đọng kết quả của bài giảng và xác định xem HS đã đạt được chưa bằng cách quan sát hoặc hỏi học sinh
Nội dung chính của phần kết luận
- Tóm tắt nội dung.
- Củng cố lại các điểm chính.
- Cô đọng nội dung dưới dạng ghi nhớ được.

- Mời người học nêu ý kiến, quan điểm.
- Mời ý kiến phản hồi 2 chiều.
- Chỉ ra những mặt tích cực của HS.
- Hướng tới tương lai.
III. Lựa chọn phương pháp dạy học
Một số phương pháp thông dụng:
Phương pháp thuyết trình
 - PP thảo luận có hướng dẫn.
 - PP nghiên cứu tình huống.
 - PP động não.
 - PP trao đổi nhóm.

 -Phương pháp thảo luận tự do
 - PP đóng vai.
 - Các PP trò chơi.
 - Tham quan học tập tại hiện trường
 2. Lựa chọn phương pháp
Lựa chọn PPDH là khâu cực kỳ quan trọng, mang ý nghĩa sống còn của quá trình chuẩn bị bài giảng.
Cần biết phối hợp các PPDH cho phù hợp với các hoạt động học tập và phong cách học tập của HS.
-PP có phù hợp với mục tiêu đã chọn không?
- Có phù hợp với đặc điểm của HS không?
- Có phù hợp với trang thiết bị, phương tiện...?
- Có thể tạo cơ hội thực hành, cho thông tin phản hồi, củng cố và điều chỉnh không?
- Có tạo cơ hội cho HS liên hệ với những gì đọc được không?

- Có tạo cơ hội và khuyến khích học tập tự quản không?
- Có đủ đa dạng để duy trì hứng thú của HS không?
- Có phù hợp với trình độ CM và SP của GV không?
- Có đáp ứng được yêu cầu của HS trong bài giảng không

 IV. Phương tiện, thiết bị dạy học
	Tùy theo bài học mà giáo viên lựa chọn phương tiện và thiết bị phù hợp với nội dung và phương pháp tổ chức dạy học đã lựa chọn
Trong quá trình lựa chọn phương tiện thiết bị giáo viên cần trả lời được các câu hỏi:
Bài dạy cần những phương tiện hỗ trợ nào?
Phương tiện đó hỗ trợ nội dung gì?
Bài học cần những thiết bị nào? 
Thiết bị đó được sử dụng như thế nào? Ai sử dụng? số lượng bao nhiêu?
2.2.2 Thiết kế một bài giảng cụ thể theo hướng phát triển năng lực
Bài: ANCOHOL ETHYLIC ( ETHANOL)
I.Mục tiêu dạy học:
 2.1 Kiến thức : Thông qua thí nghiệm, nghiên cứu HS xác định được:
Thành phần định tính và định lượng của Ancohol ethylic
Tính chất của ancohol: + Tính chất lí học
+ Tính chất hóa học: Cháy trong oxi; Tác dụng với kim loại kiềm; phán ứng Axit axetic.
+ Những ứng dụng quan trọng của ancohol ethylic và phương pháp điều chế.
 Kĩ năng: 
2.2.1. Các kĩ năng chung
Biết cách thu thập, xử lý các thông tin, tư liệu.
Viết, trình bày báo cáo, kĩ năng thuyết trình
Bước đầu biết tổ chức một chương trình hoạt động.
2.2.2. Các kĩ năng bộ môn
Phát triển kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng quan sát hiện tượng thí nghiệm pha chế ancohol theo độ, rút ra được nhận xét về thành phần, tính chất vật lí, tính chất hóa học của Ancohol ethylic
Kĩ năng viết công thức cấu tạo, phương trình hóa học, tính toán hóa học
Pha chế dung dịch rữa tay sát khuẩn từ cồn 900, vitamin E, tinh dầu thơm
 Thông qua việc tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn , xử lý thông tin trình bày dưới nhiều dạng ( Hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ tư duy) :
 2.3 Năng lực cần đạt:
Học xong chủ đề này học sinh hình thành và phát triển được các năng lực :
* Năng lực chung
 	Năng lực hợp tác: chia sẻ , thảo luận nhóm.
 	Năng lực thu thập thông tin và xử lý thông tin.
Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo
Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu, cũng như năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh trong học tập và đời sống.
* Năng lực bộ môn:
Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học như đọc viết công thức, phương trình, tính toán hóa học.
 	Năng lực nghiên cứu và thực hành thí nghiệm hóa học
2.4 Thái độ:
	Bước đầu hình thành ý thức say mê nghiên cứu khoa học.
 	Tích cực tham gia các hoạt động xã hội
	Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường.
Đối tượng dạy học của bài học:
Đối tượng là học sinh: khối 9
Số lượng: 4 lớp
Tổng số học sinh: 120 được phân thành 4 lớp, mỗi lớp phân thành 6 nhóm
Học sinh cần có vở ghi chép, sưu tập tranh ảnh, video về ô nhiểm nguồn nước, tìm hiểu về tính chất vật lí hóa học của nước, ô nhiểm nước và cách bảo vệ nguồn nước tránh ô nhiểm, bút màu, giấy vẽ.
Ý nghĩa của bài học.
Thông qua bài học giúp học sinh nắm được những tính chất cơ bản của ancohol ethylic, biết cách vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống như: cách điều chế ancohol ethylic trong thực tiễn, cách pha chế ancohol theo nồng độ, trên cơ sở đó biết cách pha chế dung dịch rửa tay sát khuẩn từ ancohol 900, 980....
Biết được cách sử dụng ancohol một cách phù hợp, tác hại của việc lạm dụng rượu, bia gây ảnh hưởng tới sức khõe đời sống con người.
Thiết bị dạy học, học liệu

Thiết bị, tư liệu, học liệu
Công nghệ - Phần cứng
- 	Máy tính
- 	Máy quay
- 	Máy in
- 	Máy chiếu
Đồ dùng
- 	Tranh ảnh, phim tư liệu.
- 	Các sản phẩm mẫu của học sinh.
+Tổ 1: Vẽ tranh tuyên truyền về vai trò ancohol ethyliv và tác hại của việc lam dụng ancohol ethylic, thuyết trình 
+Tổ 2: Sưu tập tranh ảnh, ảnh chụp, video phương pháp điều chế ancohol ethylic, thuyết trình
+Tổ 3: Viết bài tuyên truyền về tác hại của việc lạm dụng rượu, bia
- 	Khung tranh triển lãm tranh
- Sơ đồ KWL, phiếu học tập, phiếu đánh giá.
- Dụng cụ: 6 bộ ống nghiệm cho 6 nhóm, bật lữa, ống đong, đèn cồn, 6 bô mô hình phân tử HCHC
- Hóa chất: H2O, Na, C2H5OH, CH3COOH, H2SO4 đặc, benzen
Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
Giáo viên tạo tình huống: Gv sử dụng một cốc đựng chất lỏng và giới thiệu: Đây là cốc đựng chất lỏng không màu, nhẹ hơn nước, tan vô hạn trong nước, phản ứng được với một số chất hóa học, có nhiều ứng dụng trong đời sống, được lên men từ Gạo, Sắn, Ngô được nấu chín. Các em dự đoán đó là chất gì? 
HS nêu dự đoán của mình.
GV Chất lỏng đó là gì? có phải là ancohol ethylic không và nó có tính chất như thế nào mời các em tìm hiểu vào bài học hôm nay:
Bài:44 ANCOHOL ETHYLIC ( ETHANOL)
 Hoạt động 1: Tính chất vật lý
Mục đích: HS quan sát, làm thí nghiệm để xác định được tính chất vật lý của Ancohol ethylic: 
+ Chất lỏng, không màu tan vô hạn trong nước, nhiệt độ sôi thấp hơn nước (sôi ở 78.30C), là dung môi hòa tan được nhiều chất khác
+Cách pha chế Ancohol ethylic theo độ.
Dụng cụ : Ống đong, cốc chia độ, đèn cồn, rượu kế.
Hóa chất: Ancohol ethylic, benzen, nước
Tổ chức hoạt động:
Hoạt động tổ chức của giáo viên 
Hoạt động học của học sinh
-GV cho học sinh thảo luận nhóm ( Dựa trên phiếu KWL) 
-GV yêu cầu học sinh trình bày những điều đã biết về Ancohol ethylic
và chỉ ra những nội dung nào là hiện tượng vật lí, hiện tượng hóa học, tính chất vật lí, tính chất hóa học,..
- GV. Làm thế nào để biết được tính chất vật lỳ của Ancohol ethylic?
-GV: Muốn biết tính chất vật lý của ancohol ethylic chúng ta phải tiến hành các thí nghiệm để tìm hiểu về tính chất vật lý của Ancohol ethylic.
- GV: Yêu cầu các nhóm quan sát, nghiên cứu tiến hành thí nghiệm về độ tan, nhiệt độ sôi, dung môi hòa tan benzen.
-GV: Chiếu lên máy chiếu hình ảnh nhản một số chai rượu yêu cầu hs quan sát trả lời.
Người ta ghi trên nhản 450, 300, 250 cho ta biết điều gì? Vậy độ rượu là gì?
-GV: Yêu cầu các nhóm hs tính toán pha chế Ancohol ethylic 700 từ Ancohol ethylic 900
- GV: Theo dõi các nhóm làm thí nghiệm
trợ giúp khi có yêu cầu
-GV: Yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm từ đó rút ra kết luận
-GV: Nếu ta cho và Ancohol ethylic 700 vừa được pha chế một ít vitamin E, tinh dầu thơm ta sẽ được dung dịch nước rữa tay sát khuẩn.
-GV: yêu cầu học sinh rút ra kết luận về tính chất vật lý cảu Ancohol ethylic
Nhóm thảo luận
Đại diện nhóm trình bày, chỉ ra hiện tượng vật lí, hiện tượng hóa học, tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dựng, điều chế
HS trả lời:.
Nhóm làm thí nghiệm ( thực hiện theo phiếu học tập số 1)
Nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm
Nhóm khác bổ sung
HS cho ta biết rượu bao nhiêu độ.
HS nêu khái niệm độ rượu. 
Nhóm tiến hành thí nghiệm
Hoàn thành phiếu học tập số 1
Đại diện nhóm báo cáo kết quả, nhóm khác bổ sung hoàn thiện
HS rút ra kết luận về cách pha chế dung dịch nước rửa tay sát khuẩn.
 -HS rút ra kết luận về tính chất vật lý của Ancohol ethylic

Kết luận: -Ancohol ethylic là chất lỏng, không màu, sôi ở 78,30C, là dung môi hòa tan nhiều chất khác
Độ rượu = (Vrượu/Vdd rượu).100
Ta có thể pha chế ancohol theo độ cho trước
Ta có thể pha chế dung dịch nước rửa tay sát khuẩn từ ancohol ethylic 900, 980, vitaminE, tinh dầu thơm
Giáo viên tạo tình huống: Thông báo cho học sinh biết cốc đựng chất lỏng là chất lỏng, không màu, sôi ở 78,30C, là dung môi hòa tan nhiều chất khác vậy đó là chất gì? HS trả lời Ancohol ethylic
GV: Ancohol ethylic được tạo bởi ba nguyên tố đó là:C, H, O theo tỷ lệ số nguyên tử 2: 6:1 vậy nó được cấu tạo như thế nào mời các em nghiên cứu sang phần 2 “ Cấu tạo phân tử ancohol ethylic)
Hoạt động 2: Cấu tạo phân tử.
Mục đích: - HS biết được cấu tạo phân tử Ancohol ethylic có một nguyên tử H không liên kết trực tiếp với nguyên tử C mà liên kết với nguyên tử O, tạo ra nhóm –OH. Chính nhóm –OH làm cho Ancohol ethylic nói riêng và ancohol nói chung có tính chất đặc trưng.
-HS biết cách lắp ráp mô hình phân tử ancohol ethylic từ đó viết được công thức cấu tạo đầy đủ và thu gọn
Dụng cụ: 6 bộ mô hình lắp ráp phân tử HCHC
Tổ chức hoạt động:
Hoạt động tổ chức của giáo viên
Hoạt động học của học sinh
-GV: yêu cầu nhóm thảo luận nghiên cứu cách tiến hành lắp ráp mô hình phân tử Ancohol ethylic
- GV: yêu cầu các nhóm nêu nhận xét về đặc điểm của mô hình phân tử
-GV: Yêu cầu cá nhân dựa trên mô hình phân tử viết công thức cấu tạo và cấu tạo thu gọn của Ancohol ethylic

- Thảo luận tiến hành lắp ráp mô hình phân tử.
-Đại diện nhóm nêu nhận xét đặc điểm mô hình phân tử
- HS viết công thức cấu tạo đày đủ và thu gọn của Ancohol ethylic.
- HS rút

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_thiet_ke_bai_giang_theo_huong_phat_tri.docx
Giáo án liên quan