Đề tài Phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học

TIẾNG ANH LỚP 4 Unit 11 My Daily Activities

 Lesson 2: Part 1, 2

 Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /i:/ và /I/. Bằng việc áp dụng phương pháp trên, tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau:

Presentation

- Giáo viên nói từ fifteen, học sinh im lặng lắng nghe.

- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /i:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó.

- Giáo viên đọc các từ có chứa âm /i:/ như: teen/ eat/ seat, fifteen học sinh nghe và đọc theo giáo viên.

- Giáo viên viết các từ lên bảng

 - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /i:/ và giải thích cách đọc âm này:

 

doc20 trang | Chia sẻ: dung89st | Lượt xem: 1883 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o năng lực phát âm cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung, là cơ sở để đưa chất lượng đào tạo của nhà trường ngày càng tốt hơn. 
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Dự giờ thăm lớp, học hỏi từ đồng nghiệp và một số kinh nghiệm của bản thân.
- Quan sát sự tiếp thu tri thức của học sinh trong quá trình giảng dạy.
- Khảo sát năng lực phát âm của học sinh.
- Nghiên cứu từ tài liệu giảng dạy, tài liệu sưu tầm và các nguồn tài liệu về phương pháp giảng dạy từ Internet.
VI. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài đã góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc dạy và học ngữ âm Tiếng Anh hiện nay. 
- Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đã cung cấp một số phương pháp dạy ngữ âm phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học, góp phần hoàn thiện phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh nói chung.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1/ Cơ sở lý luận 
 	Hiện nay ở Việt Nam học thêm một hay nhiều ngoại ngữ khác để sử dụng trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong công việc đã trở nên rất quan trọng, đặc biệt là Tiếng Anh. Tiếng Anh được sử dụng khắp mọi nơi, mọi lúc. Từ những trẻ em chuyên bán sách báo cho khách du lịch cũng biết quảng cáo về những mặt hàng của mình bằng tiếng Anh đến những chuyên gia, những phiên dịch viên sử dụng tiếng Anh thành thạo. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là vì sao có nhiều người học Tiếng Anh trong thời gian dài nhưng khi giao tiếp với người bản xứ thì họ lại không hiểu hoặc hiểu nhầm những gì chúng ta đang nói. Câu trả lời chính là do Ngữ Âm trong Tiếng Anh. 
	Ngữ âm trong Tiếng Anh có thể hiểu bao gồm các yếu tố: phát âm (phonology), trọng âm (stress), nhịp điệu (rhythm) và ngữ điệu (intonation). Theo nghiên cứu về ngữ âm cho thấy để quá trình giao tiếp thành công nhất thì cần đạt 4 tiêu chí: Phát âm tốt (Good pronunciation); Tốc độ tự nhiên (natural speech); Nhịp điệu tự nhiên (Natural Rhythm); Và Ngữ điệu tự nhiên (natural Intonation). Đạt được 4 tiêu chí chuẩn này là tham vọng của tất cả những người học Tiếng Anh. Tuy nhiên điều này nằm ngoài khả năng của người Việt Nam. Mặc dù chúng ta không thể nói Tiếng Anh như người bản ngữ nhưng chúng ta có thể luyện tập để nói được một Tiếng Anh chấp nhận được: phát âm rõ ràng (clear pronunciation) nghĩa là khi chúng ta phát âm người nghe hiểu và phân biệt được với các âm khác.
	Xác định được tầm quan trọng của ngữ âm nói riêng và môn Tiếng Anh nói chung, hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 (phê duyệt theo Quyết định số 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 2008) nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ cho cán bộ giáo viên Tiếng Anh trong cả nước.
	2/ Cơ sở thực tiễn
	Việc tổ chức dạy học Tiếng Anh ở bậc tiểu học nhằm đáp ứng nhu cầu được học ngoại ngữ của học sinh tiểu học phù hợp với yêu cầu phát triển của giáo dục. Mặt khác, giúp học sinh có được lượng kiến thức Tiếng Anh nhất định để có thể học tốt Tiếng Anh khi lên cấp 2.
Tuy nhiên khi mới bắt đầu dạy Tiếng Anh trong trường tiểu học, qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm môn Tiếng Anh của học sinh tôi nhận thấy lực học của các em yếu quá nhiều, các em ngại nói tiếng Anh, ngại phát âm, không tập trung trong quá trình học ngữ âm, cũng như quá khó khăn trong việc viết hay miêu tả một vấn đề nào đó cho dù vấn đề đó rất đơn giản. Bên cạnh đó số lượng lớp học lại đông nên trong quá trình dạy giáo viên không thể bao quát và hỗ trợ kịp thời các em. Cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy cho các em cũng chưa được đầu tư đầy đủ như tự điển, sách báo, băng đĩa, đài cát sét, máy chiếu v.v. Hầu như các em không được tiếp xúc với người bản xứ nên cũng gây ít nhiều hạn chế trong việc phản ứng với Tiếng Anh, các em gặp rất nhiều khó khăn khi phát âm cũng như phân biệt các âm gần giống nhau khi nghe giáo viên nói. 
Từ thực tế trên bản thân tôi thiết nghĩ có một phương pháp giúp học sinh của mình học ngữ âm nhanh và dễ dàng hơn là vô cùng cần thiết, nên tôi đã học hỏi, sưu tầm và sáng tạo ra phương pháp dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh tiểu học.
II. THỰC TRẠNG PHÁT ÂM CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC. 
1/ Các số liệu điều tra.
 	Để có biện pháp, phương pháp dạy học sinh cách phát âm tốt, khắc phục sai sót tôi đã tiến hành khảo sát năng lực phát âm của các em lớp 4 và lớp 5 từ đầu năm học 2012 - 2013 và thu được kết quả như sau:
Khối
Tổng số HS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4
20
2
10
4
20
9
45
5
25
5
27
2
7
8
30
10
37
7
26
2/ Nhận định đánh giá hiện trạng
Ưu điểm: 
 	- Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì học ngoại ngữ ở lứa tuổi càng sớm thì hiệu quả càng cao. Vì vậy, lứa tuổi học sinh tiểu học là đối tượng có lợi thế khi học Tiếng Anh so với THCS và THPT đặc biệt là ngữ âm.
- Trên thực tế giảng dạy ở trường tiểu học tôi nhận thấy rất nhiều em học sinh có khả năng phát âm tốt, có niềm hăng say với học Tiếng Anh và đặc biệt là do lần đầu tiên được học môn Tiếng Anh nên các em chưa bị ảnh hưởng bởi cách đọc sai từ những lớp trước như học sinh THCS. Bởi vậy việc tiếp thu âm mới và chuẩn trở nên dễ dàng hơn.
 	Hạn chế:
- Tuy nhiên ngữ âm luôn là một lĩnh vực khó cho tất cả mọi học sinh. Các em đều gặp rất nhiều khó khăn khi học ngữ âm, đặc biệt là cách phát âm những âm cuối khó như /s/ hay /z/, /t/ hay /d/; /∫/ hay /s/ . Một số em thường đọc luốt mất những âm này khi chúng ở cuối từ.
 	- Có rất nhiều cặp âm trong Tiếng Anh có cách phát âm gần giống nhau (minimal pairs), không những học sinh mà ngay cả giáo viên nếu không chú ý cũng không phân biệt được và phát âm chính xác chúng, chẳng hạn như các âm: /i/ hay /I/, /e/ hay /æ/, /ð / hay /θ /
Nguyên nhân:
 	Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này. Trước hết, phải nhận thấy rằng đối với học sinh tiểu học hệ thống phiên âm Tiếng Anh quá mới lạ và phức tạp. Trong Tiếng Việt, chỉ cần học thuộc bảng chữ cái là cơ bản học sinh có thể phát âm được tất cả các từ nhưng trong Tiếng Anh có rất ít mối liên hệ giữa bảng chữ cái và cách phiên âm. Chỉ có 26 chữ cái nhưng trong khi đó lại có tới 44 âm gồm cả nguyên âm và phụ âm. Một chữ cái có thể được đọc bằng 2 âm (th: /θ/hoặc /ð/). Ngược lại nhiều từ có thể phát cùng âm giống nhau (phone / fun / laugh ).
 	Bên cạnh đó, một vài âm trong Tiếng Anh không tồn tại trong tiếng việt nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi phát những âm này. Khi gặp khó khăn, học sinh ngại phát âm vì sợ sai dẫn đến ngại đọc, ngại nói; càng ít đọc, ít nói thì càng đọc sai, nói sai. 
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM
1. Quy trình của bài dạy ngữ âm 
 Một giờ học ngữ âm sẽ thực sự hiệu quả nếu giáo viên thực hiện theo quy trình dạy rõ ràng, cụ thể làm cho các âm tiết trở nên dễ dàng tiếp nhận đối với học sinh. Bởi vậy, một bài dạy ngữ âm nên chia thành 3 phần như sau:
1.1. Presentation
- Giáo viên đọc từ có chứa âm đang học, học sinh lắng nghe.
Ví dụ: Dạy âm /ɔ:/ giáo viên đoc : draw (Unit 12 lesson 2, SGK Tiếng Anh 5, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh đọc âm (ví dụ: /ɔ:/) một vài lần cốt để học sinh có thể nghe rõ và quan sát được cử động miệng, môi, răng, lưỡi của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên đọc một vài từ có chứa âm đang học, học sinh đọc theo.
Ví dụ: law/ saw/ paw
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên miêu tả cách phát âm (vị trí của lưỡi, môi, răng). Giáo viên treo sơ đồ biểu thị vị trí của lưỡi, môi, răng khi phát âm và giảng giải cụ thể sao cho học sinh hiểu.
- Yêu cầu học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, (ví dụ: law, saw, paw) sau đó gọi từng nhóm nhắc lại. Cuối cùng giáo viên gọi một số học sinh nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm thứ hai.
Ví dụ: Giáo viên thực hiện theo quy trình trên khi giới thiệu âm /ɑ:/ (Unit 12 lesson 2, Tiếng Anh 5)
- So sánh đối chiếu sự khác nhau khi phát âm thứ hai với âm thứ nhất.
 Ví dụ: giáo viên giải thích sự khác biệt về vị trí lưỡi, môi, răng khi phát âm hai âm /ɔ:/ và /ɑ:/ 
- Học sinh chia thành các nhóm, nhắc lại hai âm (isolated sounds) theo giáo viên hoặc theo băng. 
1.2. Practice
 	Trong phần này học sinh nên được thực hành phát âm mới theo thứ tự từ từ (isolated words) đến cụm từ (short phrases) đến câu (sentences) và đến đoạn hội thoại (dialogue).
- Giáo viên đọc các cặp từ và học sinh lắng nghe để nhận diện âm mà giáo viên đọc là âm nào. Sau đó lần lượt cả lớp nhắc lại các cặp từ, rồi nhắc lại theo nhóm và cuối cùng nhắc lại cá nhân.
Ví dụ: Khi dạy 2 âm /eʊ/ và /ɒ/ (Unit 18 Lesson 2, SGK Tiếng Anh lớp 5, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) giáo viên đọc các cặp từ: go/ got; no/ not; close/ lot  Häc sinh l¾ng nghe vµ ®äc l¹i theo gi¸o viªn.
- Học sinh thực hành đọc các cụm từ có chứa âm đang học.
Ví dụ: go home /a hot holliday/ lots of ropes  
- Học sinh thực hành đọc các câu (trong câu có nhiều từ chứa âm đang học).
Ví dụ: Well, it’s hot. It hasn’t got many farms./ How do you go to your hometown? 
- Học sinh nhìn, nghe và nhắc lại theo giáo viên hoặc theo băng một đoạn hội thoại ngắn trong đó có nhiều từ chứa âm đang học. Các bài hội thoại này thường đã có trong sách giáo khoa.
- Học sinh trình bày lại đoạn hội thoại theo cặp (sau khi đã đọc thành thạo nếu còn thời gian học sinh có thể thêm một vài từ có chứa âm đang học vào đoạn hội thoại nhưng các từ đó phải phù hợp nghĩa với bài).
- Trong quá trình học sinh thực hành, Giáo viên theo dõi và chưa kịp thời nếu học sinh mắc lỗi.
1.3. Production
 	Giáo viên cung cấp cho học sinh trò chơi hoặc các hoạt động để cũng cố lại kiến thức. Một số trò chơi đơn giản nhưng hiệu quả và dễ thực hiện như:
Silent Sounds: Ví du: khi dạy hai âm /e/ và /æ/, giáo viên viết lên bảng:
Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên.
- Bingo: Đây là một trò chơi đơn giản nhưng rất dễ gây hứng thú cho học sinh. Có nhiều cách tiến hành trò chơi này. Sau đây tôi xin đưa ra một ví du.
Khi dạy âm /i:/ và /I/, giáo viên cho học sinh tự kẻ bảng gồm 12 -> 14 ô, học sinh lựa chọn và tự điền vào tất cả các ô nhưng con số từ 13 đến 99 sao cho hết tất cả các ô. Giáo viên (hoặc một học sinh trong lớp) đọc lần lượt các số, học sinh lắng nghe và quan sát nếu số nghe được có trong bảng của mình thì gạch số đó. Người nghe và gạch được hết các ô của mình đầu tiên thì nói to : Bingo. Giáo viên kiểm tra độ chính xác và tuyên bố người đó chiến thắng.
- Same or Different: Giáo viên viết phiên âm quốc tế lên bảng (ví dụ: /I/)
Giáo viên nói một chuỗi các âm tương tự với âm trên bảng (/i:/,/e/,/æ/). Học sinh lắng nghe và cho biết liệu các âm trên giống hay khác với âm trên bảng.
- One or Two (or three): Giáo viên viết lên bảng hai (hoặc ba) phiên âm quốc tế (ví dụ: 1 /I/, 2 /i:/, 3 /e/ sau đó lần lượt đọc các từ: fifteen/ fifty/ bit/ beat/ eat/ it/ man/ men) để học sinh nghe và nói “one” (1), “two” (2) hay “three” (3).
- Correct or incorrect: Giáo viên viết một hay một chuỗi các từ lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói “correct” (đúng) hay “incorrect” (sai).
- Word Elicitation: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và yêu cầu học sinh liệt kê từ mà âm đó đứng đầu, từ mà âm đó đứng giữa, và từ mà âm đó đứng cuối.
- Minimal Pairs: Viết phiên âm quốc tế lên bảng và cho học sinh thoải mái liệt kê các cặp từ gần giống nhau.
Ví dụ: /I/ /i:/
 	Fifty Fifteen
 	It eat
 	Bin bean
 	Ill eel ..
- Missing words: Giáo viên đọc một câu hoặc một cụm từ ngắn trong đó có một từ để trống. Học sinh lắng nghe và đoán từ để điền vào chỗ trống, miễn sao từ đó phải chứa âm đang học.
Ví dụ: Thực hành âm /3:/
A boy and a  (girl)
First, second and .... (third)
A pigeon is a kind of . (bird)
- Sentences Construction: Giáo viên viết lên bảng hai nhóm các từ có chứa âm đang học và yêu cầu học sinh đặt câu có sử dụng ít nhất hai từ trong hai nhóm đó.
Ví dụ: Thực hành âm /ɔ:/ và /æ/ (SGK Tiếng Anh lớp 5 tập 1, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam) Unit 8 – Lesson 2
Nhóm 1: tall/small/fall/volleyball/talk.
Nhóm 2: bad/bag/dad/Saturday/family.
- Picture identification: Giáo viên có thể vẽ hoặc treo một bức tranh có hai sự vật lên bảng,chẳng hạn khi dạy hai âm /i:/ và /I/ giáo viên giới treo bức tranh
 	Sau đó giáo viên nói “point to the ship” (Hãy chỉ vào chiếc thuyền) hay “point to the sheep” (Hãy chỉ vào con cừu), học sinh lắng nghe và thực hiện. Giáo viên chỉ vào từ ship và sheep cho học sinh phát âm chính xác. Sau đó giáo viên xóa từ và chỉ vào bức tranh cho học sinh phát âm đúng. 
Chú ý: Đối với những âm đôi, phương pháp dạy cũng tương tự, nhưng giáo viên nên phân chia nó thành hai âm đơn cho học sinh thực hành. Sau đó kết hợp hai âm đơn lại thành một âm đôi.
Ví dụ: Khi dạy âm: /br/ brick
 /b/ bid, big, bill -> /r/ ring, rich, rid -> /br/ brick, bring, bridge 
2/ Bài dạy áp dụng:
2.1. Bài dạy 1
TIẾNG ANH LỚP 4 Unit 11 My Daily Activities 
 Lesson 2: Part 1, 2
 	Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /i:/ và /I/. Bằng việc áp dụng phương pháp trên, tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau:
Presentation 
- Giáo viên nói từ fifteen, học sinh im lặng lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /i:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó.
- Giáo viên đọc các từ có chứa âm /i:/ như: teen/ eat/ seat, fifteen học sinh nghe và đọc theo giáo viên.
- Giáo viên viết các từ lên bảng 
 - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /i:/ và giải thích cách đọc âm này: 
 	-> Lưỡi đưa hướng lên trên và ra phía trước, khoảng cách môi trên và môi dưới hẹp, mở rộng miệng sang hai bên. Khi phát âm âm này miệng hơi bè một chút, giống như đang mỉm cười.
- Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên giáo viên giới thiệu âm /I/. Giáo viên đọc từ fifty, học sinh lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /I/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /I/ như: ty/ it/ sit/ fifty học sinh đọc theo.
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /I/ và giảng giải cách phát âm /I/ 
 	 -> Lưỡi hướng lên trên và đưa ra phía trước, khoảng cách môi trên và dưới hẹp, mở rộng miệng sang hai bên.
- Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /i:/ và /I/: khi phát âm /I/, vị trí lưỡi thấp hơn, khoảng cách môi trên và môi dưới rộng hơn và miệng mở rộng sang hai bên nhưng hẹp hơn một chút so với âm /i:/. Âm /i:/ phát dài hơi hơn âm /I/.
- Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /i:/ và /I/.
Practice
- Giáo viên đọc teen/ ty/ eat/ it/ seat/ sit/ fourteen/ forty/ thirteen/ thirty/ eighty/ eighteen theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /I/ hay /i:/ và đồng thanh nhắc lại các từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: very happy/ six thirty/ fifteen teams/ eat this meat.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: 
 It is six fifteen, Linda is thirsty and hungry.
- Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 8; phần 1), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có.
 It’s nine fifteen. 	 It’s ten fifteen.
 Peter’s thirsty. 	 Linda’s thirsty.
 It’s nine fifty. 	 It’s ten fifty.
 Peter’s hungry. 	 Linda’s happy.
Production 
 	Giáo viên có thể áp dụng một trong số những hoạt động sau đây:
 - Học sinh chơi trò chơi Bingo. Giáo viên chia lớp thành các nhóm trong đó mỗi nhóm gồm 3 người. Một thành viên trong đội đọc lên các số có trong các ô sau theo thứ tự bất kì. Các thành viên còn lại chọn một trong các bảng A, B hoặc C, lắng nghe và gạch các số mình nghe. Người nào nghe đúng và gạch được hết các số trong ô của mình sớm nhất thì nói to: Bingo 
13
3
15
7
50
30
17
80
18
5
16
15
70
90
3
17
7
6
5
90
13
20
30
16
14
80
18
 A B C 
- Học sinh chia làm các nhóm gồm 3 đến 5 người, chơi trò one or two. 
 1 2
	/i:/ /I/
Một học sinh đọc một từ chứa một trong hai âm trên (fifeen/ fifty/ hungry), những người còn lại nói one hoặc two. Thay vì nói học sinh có thể dùng ngón tay, nếu cột 1 thì giơ 1 ngón, nếu cột 2 thì giơ 2 ngón. Sau đó lần lượt các học sinh khác nói sao cho tất cả các thành viên trong nhóm đều được nói và được nghe.
Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi vòng quanh lớp để giúp đỡ 
học sinh nếu cần thiết. 
2.2. Bài dạy 2
TIẾNG ANH LỚP 5 Unit 8 My Favourite Books
 Lesson 2: Part 1, 2, 3
Trong bài này học sinh học cách phát âm 2 âm /ɔ:/ và /æ/. Tôi tiến hành bài dạy này theo quy trình sau:
Presentation 
- Giáo viên nói từ Watermelon, học sinh im lặng lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh và nói âm /ɔ:/ hai hoặc ba lần cốt để học sinh có thể nghe và quan sát miệng của giáo viên khi đọc âm đó.
- Giáo viên đọc các từ có chứa âm /ɔ:/ như: watermelon/ tall/ small học sinh nghe và đọc theo giáo viên.
- Giáo viên viết các từ lên bảng. 
 - Giáo viên treo tranh miêu tả cách đọc âm /ɔ:/ và giải thích cách đọc âm này:
 	-> Lưỡi di chuyển về phía sau, phần lưỡi phía sau nâng lên, môi tròn và mở rộng.
- Học sinh đồng thanh nhắc lại các từ trên bảng, sau đó giáo viên yêu cầu từng nhóm nhắc lại, cá nhân nhắc lại.
- Theo đúng tiến trình trên, giáo viên giới thiệu âm /æ/. Giáo viên đọc từ dragon, học sinh lắng nghe.
- Giáo viên hướng mặt về phía học sinh nói âm /æ/ cốt để học sinh có thể nghe và quan sát được miệng của giáo viên khi phát âm này.
- Giáo viên nói một vài từ có chứa âm /æ/ như: dragon/ dad/ bad học sinh đọc theo.
- Giáo viên viết các từ lên bảng.
- Giáo viên treo sơ đồ cách đọc âm /æ/ và giảng giải cách phát âm /æ/. 
 -> Vị trí lưỡi thấp, chuyển động theo hướng đi xuống, miệng mở rộng. 
- Giáo viên dùng các bức tranh chỉ ra cho học sinh các cử động miệng khác nhau khi phát ra hai âm /ɔ:/ và /æ/: khi phát âm /ɔ:/, vị trí phần lưỡi phía sau cao hơn, môi tròn hơn so với khi phát âm âm /æ/.
- Chia học sinh thành 4 nhóm, nhắc lại và thực hành phát 2 âm /ɔ:/ và /æ/.
Practice
- Giáo viên đọc talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family theo thứ tự đảo lộn, học sinh lắng nghe để nhận diện /æ/ hay /ɔ:/ và đồng thanh nhắc lại các cặp từ trên, sau đó lần lượt nhắc lại theo nhóm rối cá nhân.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc các cụm từ: dragon ball / the legend of watermelon.
- Học sinh nhắc lại theo giáo viên và thực hành đọc câu: 
 It’s the dragon in Dragon Balls.
 - Giáo viên bật băng cho học sinh nghe, học sinh vừa nhìn vào sách giáo khoa (trang 64; phần 2), vừa lắng nghe sau đó nhắc lại theo băng. Học sinh thực hành đọc đoạn sau theo cặp, giáo viên chỉnh sửa lỗi sai cho học sinh nếu có.
a. Mai: I’m reading a book.
 Nam: What book are you reading
 Mai: The Legend of Watermelon.
 b. Mai: What are you doing?
 Quân: I’m drawing a dragon. It’s the dragon in Dragon Balls. 
 Production 
 	Giáo viên có thể áp dụng một trong hai hoạt động sau đây:
 - Silent sounds: Giáo viên hướng mặt về phía học sinh, phát âm nhưng không thành tiếng lần lượt hai âm /ɔ:/ và /æ/. Học sinh quan sát cử động miệng của giáo viên (cử động của lưỡi, môi, răng) và đoán giáo viên đang nói âm gì và chỉ vào âm đó trên bảng. Sau đó giáo viên chia học sinh thành các nhóm từ 2 đến 3 người cùng chơi như trên.
 - Correct or incorrect: Giáo viên viết một từ hay một chuỗi các từ talk/ tall/ small/ bad/ bag/ dad/ fall/ Saturday/ volleyball/ family/ cord/ cad/ bought/ bat/ horse/ has lên bảng và phát âm một số từ trên đúng và một số từ sai. Học sinh lắng nghe và nói “correct” (đúng) hay “incorrect” (sai). Khi học sinh đã quen với luật chơi, giáo viên chia lớp thành các nhóm từ 4 đến 5 người c

File đính kèm:

  • docSKKN_PHUONG_PHAP_DAY_NGU_AM_20150727_035546.doc