Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh

 3. 2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

 a) Mục đích của giải pháp:

 Nghiên cứu của đề tài này nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu, có tính khả thi để khắc phục, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học, nhằm giữ vững, duy trì tốt sĩ số học sinh của lớp, của trường và góp phần thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học tại địa bàn.

 b) Nội dung giải pháp:

 Là một giáo viên Tiểu học, đứng trước một thực trạng đau lòng là các em học sinh hiện nay mới chỉ học lớp 4 mà đã có ý định muốn bỏ học, không thích đến lớp. Tôi cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm. Làm thế nào để các em ham muốn đến lớp, và cảm thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Từ sự suy nghĩ đó. Tôi quyết định đem hết khả năng, nhiệt tình sự nỗ lực phấn đấu của bản thân để giúp đỡ các em không bỏ học. Tôi đã áp dụng những biện pháp nhỏ như sau:

 

doc11 trang | Chia sẻ: xuannguyen98 | Ngày: 08/01/2021 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
 Mã số: ..............
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh 
 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác chủ nhiệm
 3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
 3. 1. Tình trạng giải pháp đã biết:
 Hiện nay, học sinh bỏ học là vấn đề nan giải và là nỗi lo của ngành giáo dục. Trường Tiểu học nơi tôi công tác trong vài năm gần đây đã có tình trạng học sinh nghỉ học nhưng đã được kịp thời vận động trở lại lớp. Còn hiện tượng học sinh đi học không đều, vắng học, có ý định bỏ học vẫn thường xuyên diễn ra hàng năm. Với quan niệm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, công tác phòng chống học sinh bỏ học được lãnh đạo nhà trường, tập thể giáo viên, chính quyền địa phương chú trọng cải thiện bằng nhiều biện pháp, cụ thể:
 ● Đối với nhà trường: Bên cạnh việc chú trọng nâng cao chất lượng giảng dạy và hiệu quả công tác giáo dục, nhà trường còn thực hiện cải thiện cơ sở vật chất, đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, làm tăng số học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Đối với gia đình chính sách, hộ nghèo, khó khăn đầu năm được trường vận động ủng hộ sách vở, quần áo... giúp học sinh nghèo ổn định học tập.
 ● Đối với giáo viên: Tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học; không ngừng học tập, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng giảng dạy. Tăng cường bồi dưỡng học sinh năng khiếu, phụ đạo học sinh còn hạn chế về kiến thức, kĩ năng. Chú trọng đặc biệt đối với học sinh cá biệt, lười học, hay trốn học; phối hợp với phụ huynh quản lí, giáo dục, theo dõi sát sao những đối tượng này.
 ● Đối với chính quyền địa phương: Chính quyền địa phương chú trọng toàn diện và thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội, giảm nghèo, giải quyết việc làm, lồng ghép các dự án phát triển kinh tế, xã hội. Tăng cường kết hợp với nhà trường vận động học sinh bỏ học trở lại trường. Đồng thời, thông qua các nguồn vốn tín dụng lãi suất ưu đãi giúp hộ nghèo, cận nghèo có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống, tạo điều kiện cho con em được đến trường, không bỏ học giữa chừng.
 Nhìn chung, các giải pháp chống học sinh bỏ học trước đây có ưu điểm là đã giúp cho tình hình học sinh bỏ học có nhiều chuyển biến tốt, không còn xảy ra trầm trọng như thời gian trước kia. Học sinh có nhiều điều kiện tốt về cơ sở vật chất, môi trường học tập, hoàn cảnh kinh tế gia đình để ổn định học tập. Tuy nhiên còn một số hạn chế là nhà trường chưa quan tâm đúng mức các biện pháp phòng ngừa khi học sinh có nguy cơ bỏ học mà chỉ thực hiện việc phòng chống học sinh bỏ học theo kiểu “theo đuôi”, khi học sinh đã bỏ học rồi mới thực hiện việc tìm hiểu nguyên nhân và vận động trở lại lớp nên nhiều khi gặp khó khăn. Gia đình học sinh, chưa thật sự hết lòng và tích cực xem trọng công tác này nên hiệu quả thu được không cao. Trong khi, công việc này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết của những người có liên quan. Chính vì thế, vấn nạn học sinh bỏ học đến nay vẫn chưa giải quyết được triệt để. Hiện tượng học sinh bỏ học như hiện nay nhìn chung là một thực trạng rất đáng lo ngại, là nỗi bức xúc của ngành giáo dục, nỗi trăn trở của cấp ủy, chính quyền và cả cộng đồng. Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục là một mục tiêu phấn đấu quan trọng của những vùng đất còn nhiều khó khăn, trong đó có trường tôi. Vì thế, tìm ra biện pháp duy trì, giữ vững sĩ số học sinh cũng là giải pháp giúp ngăn chặn học sinh bỏ học. Bản thân tôi nhận nhiệm vụ chủ nhiệm lớp nên tôi nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc duy trì sĩ số học sinh để nâng cao chất lượng giáo dục nơi địa bàn đơn vị mình đang công tác. Với tâm huyết của mình đối với sự nghiệp giáo dục, tôi rất quan tâm đến nỗi lo chung của ngành và suy nghĩ, đề ra một số giải pháp nhằm bảo đảm, duy trì sĩ số học sinh lớp mình góp phần chấn chỉnh kịp thời tình trạng học sinh bỏ học của trường. 
 3. 2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
 a) Mục đích của giải pháp:
 Nghiên cứu của đề tài này nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu, có tính khả thi để khắc phục, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học, nhằm giữ vững, duy trì tốt sĩ số học sinh của lớp, của trường và góp phần thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học tại địa bàn. 
 b) Nội dung giải pháp:
 Là một giáo viên Tiểu học, đứng trước một thực trạng đau lòng là các em học sinh hiện nay mới chỉ học lớp 4 mà đã có ý định muốn bỏ học, không thích đến lớp. Tôi cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm. Làm thế nào để các em ham muốn đến lớp, và cảm thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Từ sự suy nghĩ đó. Tôi quyết định đem hết khả năng, nhiệt tình sự nỗ lực phấn đấu của bản thân để giúp đỡ các em không bỏ học. Tôi đã áp dụng những biện pháp nhỏ như sau:
 ● Điều tra nắm hoàn cảnh của từng học sinh ngay từ đầu năm học:
 Ngay sau khi nhận nhiệm vụ BGH phân công, tôi thực hiện chu đáo việc tiếp nhận bàn giao lớp từ giáo viên lớp dưới. Trao đổi với giáo viên lớp dưới để biết sức học cũng như năng khiếu và hạn chế của từng em. Tìm hiểu thêm qua đồng nghiệp khác và chính quyền địa phương để hiểu rõ hoàn cảnh gia đình cũng như điểu kiện kinh tề của từng em, em nào là con hộ nghèo, cận nghèo, khó khăn  Một khi hiểu rõ về học sinh mình hơn thì giáo viên chủ nhiệm sẽ có biện pháp đúng và kịp thời.
 ● Quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn: 
 Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giáo viên cần phát huy sự trợ giúp của tập thể lớp, cùng động viên cả lớp quan tâm đóng góp một phần công sức của mình giúp bạn vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời giáo viên cần tham mưu với Ban giám hiệu, phối hợp với Tổng phụ trách đội xét, tặng học bổng, quà cho các em. Đó là nguồn động viên giúp các em đến lớp và học tập ngày một tốt hơn.
 ● Dạy học bằng tình thương:
 Đối với học sinh hạn chế về kiến thức, kĩ năng thông thường giáo viên luôn có ác cảm. Vì các em mà giáo viên phải bỏ công sức nhiều hơn, thành tích lớp bị hạ thấp, danh hiệu thi đua bị cắt... cho nên khi kèm cặp học sinh yếu tại lớp mình giáo viên thường bực bội có thái độ không tốt. Để giúp những đối tượng học sinh đó, giáo viên phải thật sự thương yêu, phài là người bạn lớn của các em. Giáo viên phải biết sử dụng lời nói, cử chỉ, tổ chức các hoạt động dẫn dắt các em vào bài học, giúp các em yêu mến bạn bè, trường lớp, thầy cô. Giáo viên muốn học sinh ham thích học thì trong tiết dạy điều cần thiết là phải thể hiện được tác phong sư phạm mẫu mực, gần gũi, ân cần với học sinh. Tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh. Trong giảng dạy giáo viên lưu ý 
lời nói phải nhẹ nhàng, giữa giáo viên và học sinh luôn có sự ăn ý nhịp nhàng, khi giảng bài giáo viên phải luôn quan sát học sinh trong lớp, đặc biệt những em học hay nghịch ngợm. Mỗi lần học sinh có ý kiến nếu trả lời chưa đúng thì phải giúp học sinh biết chỗ chưa đúng, không nên để cho học sinh ngồi xuống mà không biết mình chưa đúng điểm nào, đừng để học sinh bị mất mặt trước mặt bạn bè, làm trò cười cho lớp học. Biết động viên, khích lệ học sinh dù các em chưa thật sự tiến bộ hay tiến bộ rất chậm. Giáo viên biết sử dụng năng khiếu của mình làm tiết học thêm sinh động. Ví dụ: Tìm những câu truyện vui kể cho các em, hay pha một vài câu hài hước để học sinh cảm thấy thoải mái. Một tiết học mà học sinh hoạt động vui vẻ, sẽ có hiệu quả hơn những tiết học mà học sinh quá trầm. Để các em yếu mạnh dạn hơn thì giáo viên phải biết yêu thương, gần gũi, tạo sự thân tình để các em hòa đồng vào môi trường học tập ở trường, lớp. Để từ đó các em có ấn tượng tốt với trường, lớp, thầy cô mà ham thích học tập. Giáo viên phải biết gần gũi tâm sự, trò chuyện với những học sinh còn hạn chế về kiến thức, kĩ năng, năng lực. Hỏi các em về chuyện gia đình, về chuyện học hành, để các em cảm thấy thân thiện với giáo viên hơn và qua đó giáo viên sẽ hiểu được nguyên nhân vì sao các em học chưa tốt, hiểu về tâm tư tình cảm, hoàn cảnh các em để có biện pháp giáo dục tốt hơn.
 ● Giao việc cho học sinh hạn chế về kiến thức, kĩ năng:
 Để học sinh hạn chế về kiến thức, kĩ năng không bỏ học, chúng ta cần cho học sinh thấy các em luôn được thầy cô tin tưởng, thương yêu. Được làm việc có ích cho trường, lớp là một vinh hạnh của các em. Đặc biệt những học sinh đó lại có tính nhút nhát, rụt rè để các em mạnh dạn, gần gũi thầy cô hơn. Và các em này sẽ rất vui, rất tự hào và cảm thấy mình đã làm việc có ích. Do vậy giáo viên nên giao việc cho các em làm. Giáo viên thường xuyên tìm những việc nhỏ, thích hợp hàng ngày ở lớp để giao cho các em làm. Một điều quan trọng là sinh học hạn chế về kiến thức, kĩ năng thường ham chơi, không chịu học thì chúng ta cần làm cho các em này yêu thích trường, lớp trước rồi mới yêu thích học. 
 ● Phối hợp tốt với Nhà trường, Tổng phụ trách Đội, xây dựng các hoạt động ngoại khóa để thu hút học sinh đến trường: 
 Tham mưu cùng ban lãnh đạo Nhà trường, Tổng phụ trách Đội, giáo viên bộ môn để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ, bao gồm hoạt động giữa giờ ra chơi; sinh hoạt chủ điểm; kế hoạch hoạt động chéo buổi xen lẫn các môn học Thể dục, học phụ đạo, học bồi dưỡng, hoạt động vui chơi trong hè tạo sự thu hút, tập trung của các em 
khi vào trường, giúp các em hăng hái hơn trong sinh hoạt và học tập, làm cho học sinh cảm nhận được mỗi ngày đến trường là một ngày vui và ham thích đến trường. Nội dung các hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi dân gian, trò chơi tập thể, văn nghệ, múa hát cộng đồng, thi đố vui để học, Rung chuông vàng, hội khỏe Phù Đổng, sinh hoạt Sao kết hợp tăng cường chú trọng việc tích hợp rèn luyện, giáo dục các chuẩn mực đạo đức, kĩ năng sống, nhận thức xã hội cho học sinh. Các hoạt động nói trên phải được tổ chức kết hợp đan xen trong chương trình học, trong tiết học một cách hợp lý sao cho phong phú, sinh động và hấp dẫn để giảm bớt mệt mỏi, căng thẳng cho học sinh do hằng ngày các em phải tiếp thu một khối lượng kiến thức lớn khi đến trường. Đề xuất thực hiện một số phong trào nhằm giúp các em đi học đầy đủ như: phong trào giúp bạn vượt khó, phong trào cùng nhau đi học, phong trào cùng bạn hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. vận động học sinh tích cực tham gia để giúp học sinh có ý thức và thái độ tốt hơn trong học tập.
 ● Liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh để nắm tình hình: 
 Sự buông lỏng của gia đình là nguyên nhân chủ yếu làm cho học sinh lơ là học tập. Sự lười biếng học tập kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả là học lực nhanh chóng giảm sút. Học sinh bị mất căn bản do hỏng kiến thức quá lớn, vào học thầy cô giảng bài không hiểu được đồng thời hay bị phê bình nên chán nản bỏ học. Chính vì thế, từng gia đình phải có trách nhiệm quản lý, nhắc nhở và thường xuyên giám sát việc học tập của con em mình. Hiện tại vẫn còn nhiều gia đình lo làm ăn kiếm tiền khá giả, họ không quan trọng việc học tập của con em mà có quan niệm là học được thì tốt, còn không được thì ở nhà phụ giúp gia đình. Với những đối tượng này, chúng ta phải thật khéo léo cải thiện dần tư tưởng để họ thấy được sự quan trọng của việc học và có trách nhiệm hơn trong việc cùng nhà trường quản lí, giáo dục con em học tập tốt. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải trực tiếp liên lạc với phụ huynh học sinh để trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình, cùng phụ huynh tìm ra các giải pháp phối hợp tốt nhất trong công tác quản lí và giáo dục con em họ. Góp phần duy trì tính chuyên cần, tích cực học tập của học sinh. Tích cực chủ động liên lạc với phụ huynh học sinh nhất là những trường hợp học sinh cá biệt, thường xuyên trốn học để phối hợp giáo dục. 
 ● Phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, lực lượng xã hội tại địa phương:
 Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục. Cụ thể là giữa Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, cha mẹ học sinh và chính quyền, đoàn thể địa phương để tất cả những học sinh có biểu hiện sa sút về học tập hoặc vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật phải được quản lý và có biện pháp ngăn ngừa, giáo dục ngay từ đầu. Hơn lúc nào hết, đối với học sinh cá biệt, rất cần sự nghiêm khắc, bao dung, độ lượng và nhiệt tình của giáo viên và các ban ngành, đoàn thể trong xã hội. Phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể tích cực thường xuyên tuyên truyền cho các bậc phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của việc học tập, vận động xây dựng gia đình văn hóa nhằm phát hiện và giáo dục học sinh tránh xa các tệ nạn xã hội cùng các loại hình giải trí không lành mạnh, hỗ trợ kịp thời không để cho xảy ra tình trạng học sinh bỏ học tại thôn ấp mình, nhất là lứa tuổi học sinh tiểu học.
 3. 3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
 Các giải pháp trên được ứng dụng trong việc ngăn ngừa học sinh trường tiểu học bỏ học, nhằm bảo vệ vững chắc và duy trì sĩ số học sinh của lớp, trường nơi tôi đang công tác. Dựa vào những kết quả đạt được từ việc đổi mới cách tổ chức, phương pháp ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học, duy trì sĩ số.. tôi nghĩ kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng rộng rãi ở các trường tiểu học. 
 3. 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: 
Qua áp dụng những biện pháp cụ thể như trên, tôi nhận thấy sĩ số lớp được duy
trì đến cuối năm, ý thức học tập và kết quả giáo dục của các em học sinh chán học đã được nâng cao rất nhiều. Các em không còn ý định bỏ học, không còn tìm lí do để trốn học và học tập tiến bộ hơn. Nhờ sự tác động tư tưởng của giáo viên mà gia đình phụ huynh học sinh đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc học và trách nhiệm của mình trong việc quản lí, giáo dục các em./. 

File đính kèm:

  • docSKKN- DUY TRI SS HS.doc