Đề tài Vận dụng các kiến thức liên môn để tìm hiểu địa lí địa phương tỉnh Hà Giang

* Dinh họ Vương

- Dinh Họ Vương: Tại huyện Đồng Văn hiện có một điểm du lịch là dinh họ Vương (Vương Chí Sình) thuộc địa phận xã Sà Phìn. Quy mô của dinh không lớn nhưng đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên này. Đoạn đường dẫn vào dinh chỉ dốc thoai thoải, được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc. Vòng thành ngoài là một bức tường dày khoảng 40 cm, cao khoảng 2 m (6 ft). Vòng thành trong dày và kiên cố hơn vòng thành ngoài.

doc20 trang | Chia sẻ: dung89st | Ngày: 20/04/2016 | Lượt xem: 326 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Vận dụng các kiến thức liên môn để tìm hiểu địa lí địa phương tỉnh Hà Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ắc Quang có những đơn vị hành chính nào? Giáp các huyện nào? nếu muốn đi đến thành phố Hà Giang ta nên đi theo quốc lộ nào?
* Lịch sử 
- Đất Hà Giang xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên. Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa, đến năm 1728, Trung Hoa trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Năm 1895, ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay.
- Năm 1900, tỉnh Hà Giang được thành lập từ sự chia tỉnh Tuyên Quang. Khi đó, tỉnh Hà Giang gồm phủ Tương Yên và 04 huyện: Vĩnh Điện(do phủ quản lí), Để Định, Vị Xuyên, Vĩnh Tuy
- Trải qua thời gian dài, lãnh thổ của tỉnh có nhiều thay đổi trước năm 1975, Hà Giang có các huyện Đồng Văn, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh, Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Thanh Thủy và Quản Bạ. Năm 1976 sau khi đất nước thống nhất Hà Giang cùng với Tuyên Quang hợp nhất lại thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, Hà Tuyên lại được tách ra thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang
* Hành chính
- Tỉnh Hà Giang bao gồm 1 thành phố và 10 huyện:
Thành phố Hà Giang 5 phường và 3 xã 
Huyện Bắc Mê 1 thị trấn và 12 xã 
Huyện Bắc Quang 2 thị trấn và 21 xã 
Huyện Đồng Văn 2 thị trấn và 17 xã 
Huyện Hoàng Su Phì 1 thị trấn và 24 xã 
Huyện Mèo Vạc 1 thị trấn và 17 xã 
Huyện Quản Bạ 1 thị trấn và 12 xã 
Huyện Quang Bình 1 thị trấn và 14 xã 
Huyện Vị Xuyên 2 thị trấn và 22 xã 
Huyện Xín Mần 1 thị trấn và 18 xã 
Huyện Yên Minh 1 thị trấn và 17 xã 
- Tỉnh Hà Giang có 196 đơn vị cấp xã bao gồm 5 phường, 13 thị trấn và 178 xã
- Thống kê đến ngày 30/06/2004 Tỉnh Hà Giang số xã/phường/thị trấn: 102; xã: 84, phường: 9, thị trấn: 9
024. Thành phố Hà Giang 5 phường, 3 xã: Phường Minh Khai, Phường Nguyễn Trãi, Phường Quang Trung, Phường Trần Phú, Phường Ngọc Hà, Xã Phương Thiện, Xã Ngọc Đường, Xã Phương Độ. 
026. Huyện Đồng Văn 2 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Đồng Văn, Thị trấn Phó Bảng, Xã Hố Quáng Phìn, Xã Lũng Cú, Xã Lũng Phìn, Xã Lũng Táo, Xã Lũng Thầu, Xã Má Lé, Xã Phố Cáo, Xã Phố Là, Xã Sảng Tủng, Xã Sính Lủng, Xã Sủng Là, Xã Sủng Trái, Xã Tả Lủng, Xã Tả Phìn, Xã Thài Phìn Tủng, Xã Vần Chải, Xã Xà Phìn. 
027. Huyện Mèo Vạc 1 thị trấn, 16 xã: Thị trấn Mèo Vạc, Xã Cán Chu Phìn, Xã Giàng Chu Phìn, Xã Khâu Vai, Xã Lũng Chinh, Xã Lũng Pù, Xã Nậm Ban, Xã Niêm Sơn, Xã Pả Vi, Xã Pải Lủng, Xã Sơn Vĩ, Xã Sủng Máng, Xã Sủng Trà, Xã Tả Lủng, Xã Tát Ngà, Xã Thượng Phùng, Xã Xín Cái. 
028. Huyện Yên Minh 1 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Yên Minh, Xã Bạch Đích, Xã Đông Minh, Xã Du Già, Xã Du Tiến, Xã Đường Thượng, Xã Hữu Vinh, Xã Lao Và Chải, Xã Lũng Hồ, Xã Mậu Duệ, Xã Mậu Long, Xã Na Khê, Xã Ngam La, Xã Ngọc Long, Xã Phú Lũng, Xã Sủng Thài, Xã Sủng Tráng, Xã Thắng Mố. 
029. Huyện Quản Bạ 1 thị trấn, 12 xã: Thị trấn Tam Sơn, Xã Bát Đại Sơn, Xã Cán Tỷ, Xã Cao Mã Pờ, Xã Đông Hà, Xã Lùng Tám, Xã Nghĩa Thuận, Xã Quản Bạ, Xã Quyết Tiến, Xã Tả Ván, Xã Thái An, Xã Thanh Vân, Xã Tùng Vài. 
030. Huyện Vị Xuyên 2 thị trấn, 21 xã: Thị trấn NT Việt Lâm, Thị trấn Vị Xuyên, Xã Bạch Ngọc, Xã Cao Bồ, Xã Đạo Đức, Xã Lao Chải, Xã Linh Hồ, Xã Minh Tân, Xã Ngọc Linh, Xã Ngọc Minh, Xã Phong Quang, Xã Phương Độ, Xã Phương Thiện, Xã Phương Tiến, Xã Quảng Ngần, Xã Thanh Đức, Xã Thanh Thủy, Xã Thuận Hoà, Xã Thượng Sơn, Xã Trung Thành, Xã Tùng Bá, Xã Việt Lâm, Xã Xín Chải. 
031. Huyện Bắc Mê 1 thị trấn 12 xã: Thị trấn Yên Phú, Xã Đường Âm, Xã Đường Hồng, Xã Giáp Trung, Xã Lạc Nông, Xã Minh Ngọc, Xã Minh Sơn, Xã Phiêng Luông, Xã Phú Nam, Xã Thượng Tân, Xã Yên Cường, Xã Yên Định, Xã Yên Phong. 
032. Huyện Hoàng Su Phì 1 thị trấn, 24 xã: Thị trấn Vinh Quang, Xã Bản Luốc, Xã Bản Máy, Xã Bản Nhùng, Xã Bản Péo, Xã Bản Phùng, Xã Chiến Phố, Xã Đản Ván, Xã Hồ Thầu, Xã Nậm Dịch, Xã Nậm Khòa, Xã Nam Sơn, Xã Nậm Tỵ, Xã Nàng Đôn, Xã Ngàm Đăng Vài, Xã Pố Lồ, Xã Pờ Ly Ngài, Xã Sán Xả Hồ, Xã Tả Sử Choóng, Xã Tân Tiến, Xã Thàng Tín, Xã Thèn Chu Phìn, Xã Thông Nguyên, Xã Tụ Nhân, Xã Túng Sán. 
033. Huyện Xín Mần 1 thị trấn, 18 xã: Thị trấn Cốc Pài, Xã Bản Díu, Xã Bản Ngò, Xã Chế Là, Xã Chí Cà, Xã Cốc Rế, Xã Khuôn Lùng, Xã Nà Chì, Xã Nấm Dẩn, Xã Nàn Ma, Xã Nàn Xỉn, Xã Ngán Chiên, Xã Pà Vầy Sủ, Xã Quảng Nguyên, Xã Tả Nhìu, Xã Thèn Phàng, Xã Thu Tà, Xã Trung Thịnh, Xã Xín Mần. 
034. Huyện Bắc Quang 2 thị trấn, 21 xã: Thị trấn Việt Quang, Thị trấn Vĩnh Tuy, Xã Bằng Hành, Xã Đồng Tâm, Xã Đông Thành, Xã Đồng Tiến, Xã Đồng Yên, Xã Đức Xuân, Xã Hùng An, Xã Hữu Sản, Xã Kim Ngọc, Xã Liên Hiệp, Xã Quang Minh, Xã Tân Lập, Xã Tân Quang, Xã Tân Thành, Xã Thượng Bình, Xã Tiên Kiều, Xã Việt Hồng, Xã Việt Vinh, Xã Vĩnh Hảo, Xã Vĩnh Phúc, Xã Vô Điếm. 
035. Huyện Quang Bình 1 thị trấn,14 xã: Thị trấn Yên Bình, Xã Bản Rịa, Xã Bằng Lang, Xã Hương Sơn, Xã Nà Khương, Xã Tân Bắc, Xã Tân Nam, Xã Tân Trịnh, Xã Tiên Nguyên, Xã Tiên Yên, Xã Vĩ Thượng, Xã Xuân Giang, Xã Xuân Minh, Xã Yên Hà, Xã Yên Thành. 
Hoạt động 3.
 - Vận dụng kiến thức toán thống kê, tìm hiểu các đặc điểm về Điều kiện tự nhiên, TNTN và sự phát triển kinh tế
* Bài tập: Xác định dạng địa hình chính và giá trị kinh tế của nó tại địa phương em?.
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 7.884,37 km², chiếm 2,4% diện tích cả nước.
* Khí tượng thủy văn
- Khí hậu Hà Giang mang đặc trưng chung của khí hậu miền Bắc, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô hanh và lạnh. Nhưng do ảnh hưởng của đai cao và sự án nhữ sừng sững của các khối núi thuộc cánh cung sông gâm ở phí đông, nên khí hậu có sự phân hóa phức tạp và mang nhiều sác thái riêng biệt.
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 18 - 25ºC
- Nhiệt độ bình quân 27,7ºC
- Tổng số giờ nắng trung bình năm 1400 giờ
- Lượng mưa trung bình năm 2500 mm
- Đô ẩm 84%
* Sông ngòi
- Sông lô bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc),chảy vào Hà Giang tại xã Thanh Thủy, Huyện Vị Xuyên. Qua Hà Giang, dòng sông xuôi về Tuyên Quang, Phú Thọ và gặp sông Hồng tại Thành phố Việt Trì. Đoạn chảy trong địa phận Hà Giang có lòng nhỏ, nhiều thác ghềnh
- Sông Gâm bắt nguồn từ vùng Nghiêm Sơn (Trung Quốc), chảy qua mỏm cực bắc Hà Giang, qua huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Bắc Mê, đến Na Hang, Chiêm Hóa, đổ vào sông lô tại Tuyên Quang. Trên đất Hà Giang, sông Gâm chảy quanh co, nhiều đoạn chảy ngầm trong lòng núi
- Sông Chảy bắt nguồn từ nguồn chia nước Tây Côn Lĩnh, chảy qua các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần và Bắc Quang. Tại Hà Giang, lòng sông nhỏ, độ dốc lớn, nhiều hẻm vực, nước chảy xiết. Sông Chảy tiếp tục xuôi dòng về Yên Bái, Phú Thọ rồi hòa vào sông Lô ở Đoan Hùng
- Sông ngòi của tỉnh Hà Giang có giá trị lớn về thủy điện, đồng thời là nguồn cung cấp nước quan trọng cho đời sống và sản xuất. song hầu hết các sông suối có độ cao nhỏ hơn so với địa bàn cư trú nên nhiều nơi thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và sinh hoạt. Hơn nữa sông có nhyieeuf thác ghềnh nên ít có giá trị về giao thông
* Địa hình
- Địa hình Hà Giang khá phức tapjcos nhiều dãy núi cao và cao nguyên, trong đó có đỉnh trên 2000m so với mực nước biển như Tây Côn Lĩnh (2418m) Kiều Liêu Ti(2402m), Pu Tha Ca ( 2274m). Độ cao trung bình toàn tỉnh từ 800 – 1200m nơi cao nhất ở phía bắc và tây bắc, nơi thấp nhất (có độ cao từ 80 – 100m) về phần trung tâm và phía nam của tỉnh
- Về mặt địa hình, lãnh thổ chia làm 03 vùng:
+ Vùng núi đá vôi phía bắc, gồm địa phận các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn Mèo Vạc, chiếm 28,4% tổng diện tích tự nhiên. Độ cao trung bình từ 1000m – 1600m
+ Vùng núi đất phía tây, gồm 02 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần và một số xxax của vùng cao của 02 huyeennj Bắc Quang và Vị Xuyên chiếm 18,3% tổng diện tích tự nhiên. Đây là vùng đồi núi đất pha cát, độ cao trung bình từ 900 – 1000m
+ Vùng đồi núi thấp, gồm thị xã Hà Giang và các huyện Bắc Quang , Vị Xuyên, Bắc Mê Chiếm 53,3% diện tích toàn tỉnh. Đậy là vùng đồi núi thấp, sườn thoải, xen kẽ các thung lũng rộng, độ cao trung bình từ 80 – 400m
* Dân số
- Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009 là 724.537 người, đứng thứ 54 trong 61 tỉnh thành và đứng thứ 10 trong 14 tỉnh trung du và miền núi bắc bộ
- Gồm 23 dân tộc anh em trong đó : Mông (chiếm 32,0 % tổng dân số toàn tỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %)...
* Kinh tế
- Tốc độ tang trủng kinh tế khá cao trung bình năm thời kỉ(1991 -11999) là 8,6% (cả nước 8,5%)
- Thu nhập bình quân trên đầu người 1,69 triệu dồng (1999)
- Khu vực I (nông, lâm, ngư nghiệp) chiêm 51,8%(1999)
- Khu vực II ( công nghiệp, xây dựng) chiếm 20,8% (1999)
Khu vực III (dịch vụ) chiếm 27,4% (1999)
Hoạt động 4. 
- Vận dụng các kiến thức chung  tìm hiểu về thắng cảnh và văn hóa
* Đèo Mã Pì Lèng
- Hang Phương Thiện: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên. Các loại quả đặc sản: mận, lê, cam, táo và các loại chè tuyết san cổ thụ mọc trên độ cao 900 m (2.700 ft). 
- Hang Chui: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 dặm). Cửa hang hẹp phải lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều nhũ đá rủ xuống đủ mọi hình thù. Đặc biệt hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác. 
- Động Tiên và Suối Tiên: Động cách thành phố Hà Giang 2 km (1.25 dặm). Động có Suối Tiên rất đẹp. Tương truyền xưa, các tiên nữ vẫn thường xuống động này để tắm vào dịp Tết nên được đặt tên là Động Tiên. Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may mắn vào lúc giao thừa. 
- Động Én: Động cách thành phố Hà Giang 60 km (37,5 dặm) thuộc địa phận huyện Yên Minh. Từ thành phố Hà Giang qua cổng trời Quản Bạ, qua những cách rừng thông sẽ tới động Én. Hang động còn mang nhiều nét hoang sơ nhưng đẹp. 
- Đồng Văn - "Cổng Trời": Là một huyện vùng cao biên giới của Hà Giang. Độ cao vùng khoảng 1.000 m (3.000 ft) so với mặt biển, địa hình hầu như chỉ thấy núi đá. Huyện lỵ cách thành phố Hà Giang 146 km (91,25 dặm) giao thông rất khó khăn. 9 trong 19 xã thuộc huyện có đường biên giới với Trung Quốc. Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1 °C, nhưng mùa hè nóng nhất chỉ khoảng 24 °C. Bầu trời hầu như quanh năm mưa và mù nên ở đây người dân có câu: "thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày" và "đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng". Đồng Văn có điểm cực bắc của Việt Nam tại xã Lũng Cú. Người ta nói rằng nếu chưa lên Lũng Cú thì coi như chưa đến Đồng Văn, bởi Lũng Cú là "nóc nhà của Việt Nam" nơi mà "cuối mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời". Đồng Văn nổi tiếng về trái ngon quả ngọt: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, hồi, quế... Đồng Văn còn nổi riếng về phong cảnh như núi non, hang động, những rừng hoa đủ sắc màu... 
- Thung lũng Quản Bạ 
- Núi đá Mèo Vạc, đèo Mã Pí Lèng 
Núi Đôi (Thị trấn Tam Sơn và xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) Danh thắng Núi Đôi thuộc thị trấn Tam Sơn và xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Cách thành phố Hà Giang 46km về phía Bắc. Khi vượt qua cổng trời Quản Bạ, du khách có dịp dừng chân chiêm ngưỡng Núi Đôi Quản Bạ, với “đôi gò Bồng Đào” do thiên tạo thật cân đối, quyến rũ. Đây thực sự là một cảnh quan karst độc đáo của thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ và của cả khu vực cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc. Cũng bắt đầu từ đây là cánh đồng Quản bạ thấp, phẳng, vì thế càng tạo không gian thoáng đãng cho “đôi gò” nhô cao, bay bổng. Theo đánh giá của các nhà khoa học địa chất thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đôlômít. Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sường núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi. Cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay. Đá Đôlômít bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa. Đặc biệt, còn đóng vai trò trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chop nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn. Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm trở lại đây. Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn hiện nay. Danh thắng Núi Đôi Quản Bạ xếp hạng quốc gia ngày 16/11/2009.
- Thành phố Hà Giang: Thành phố Hà Giang là một thành phố đẹp nằm trong một thung lũng, bốn bên là núi, có dòng sông Lô chảy qua thành phố. Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh. Thành phố có khu di chỉ khảo cổ học Đồi Thông nằm ngay trong lòng thành phố, nơi đây đã tìm thấy hàng ngàn di vật từ thời tiền sử và được xác định là một trong những vùng văn hóa sớm nhất của Việt Nam. 
Cánh đồng lúa ở Hà Giang
Cánh đồng bên cạnh dãy núi đá vôi
- Di tích kiến trúc nghệ thuật phố cổ Đồng Văn (Thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) Từ thành phố Hà Giang ngược lên phía Bắc theo đường quốc lộ 4C (Hà Giang – Đồng Văn) 155km là đến phố cổ. Phố cổ Đồng Văn nằm ở thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Phố cổ phân bố trên diện tích hơn 10.000 km2, bao gồm khu chợ và những ngôi nhà thuộc hai thôn Quyết Tiến và Đồng Tâm. Trước đây, khi chưa hình thành Phố cổ, mảnh đất thung lũng hình lòng chảo này cây cối rậm rạp, nhà cửa dân cư thưa thớt. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với ý đồ của chính quyền đô hô là xây dựng Đồng Văn trở thành một trung tâm giao thương trên vùng cao nguyên đá, cũng thời kỳ này Phố cổ được hình thành và xây dựng. Từ đó đến nay nơi đây vẫn giữ vai trò là một trung tâm buôn bán sầm uất trong khu vực cao nguyên đá Đồng Văn. Nhìn về tổng thể, khu Phố cổ Đồng Văn là sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống của cư dân bẩn địa với kiến trúc của cư dân vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Các ngôi nhà cổ với kiến trúc kiểu nhà phòng thủ: trình tường, mái lợp ngói máng truyền thống của địa phương tạo cho toàn bộ khu phố cổ Đồng Văn có nét đẹp riêng, độc đáo. Đến nay, nhiều nhà cổ Đồng Văn tuy mới chỉ ngót khoảng trăm tuổi, song nét rêu phong và sự phong lưu một thời của những dãy nhà cổ còn lưu lại gợi cho ta cảm giác về một góc Phố cổ Đồng Văn xưa. Cũng như các vùng miền đa dân tộc khác, Phố cổ Đồng Văn là khu vực đa sắc màu văn hóa. Người Tày chiếm đa số trong cộng đồng dân cư và có đời sống văn hóa nổi trội so với các dân tộc có số ít dân hơn. Tuy nhiên, mỗi dân tộc nơi đây vẫn bảo lưu được những nét sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc trưng của dân tộc mình. Di tích kiến trúc nghệ thuật Phố cổ Đồng Văn được xếp hạng quố gia ngày 16/11/2009.
* Dinh họ Vương
- Dinh Họ Vương: Tại huyện Đồng Văn hiện có một điểm du lịch là dinh họ Vương (Vương Chí Sình) thuộc địa phận xã Sà Phìn. Quy mô của dinh không lớn nhưng đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên này. Đoạn đường dẫn vào dinh chỉ dốc thoai thoải, được lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc. Vòng thành ngoài là một bức tường dày khoảng 40 cm, cao khoảng 2 m (6 ft). Vòng thành trong dày và kiên cố hơn vòng thành ngoài. Cả hai vòng thành đều có lỗ châu mai. Giữa hai vòng thành là một dải đất rộng khoảng 50 m (150 ft), trồng toàn trúc. Dinh có ba ngôi nhà sàn. Ngôi nhà chính quay mặt ra cổng thành, hai ngôi nhà phụ song song nhau và vuông góc với ngôi nhà chính. Cả ba ngôi nhà được làm bằng gỗ, từ cột, kèo, sàn, vách, mái đều làm bằng gỗ quý. Ngôi nhà chính là nơi ở của "vua" họ Vương, ở đó hiện vẫn còn bức hoàng phi với bốn chữ "Biên chinh khả phong" được vua Nguyễn ban cho. Hai ngôi nhà kia dành cho những người phục vụ và lính bảo vệ. 
- Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương Dinh thự Nhà Vương thuộc xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ pơ-mu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt với các hình chủ đạo là rồng, phượng, dơi, tượng trưng cho quyền quý và hưng thịnh. Dinh thự mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi với kiến trúc hình chữ “vương”, tọa lạc trên quả đồi hình mai rùa và được bao bọc bởi hai vòng tường thành xây bằng đá hộc có tác dụng vừa làm dinh thự vừa làm pháo đài phòng thủ. Đây là một điển hình về sự giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt – Trung. Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Vương từng được ví như một hạt ngọc xanh giữa lòng Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn.
* Núi Đôi Quản Bạ
- Chợ tình Khâu Vai: Chợ chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khâu Vai, huyện Mèo Vạc. Truyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái thuộc hai bộ lạc yêu nhau. Người con gái rất xinh đẹp, bộ lạc của cô không muốn cô lấy chồng sang bộ lạc khác; còn bộ lạc bên chàng trai lại muốn cô về làm dâu bộ lạc của mình. Chính vì vậy mà hiềm khích giữa hai bộ lạc xảy ra. Mối thù của hai bộ lạc càng nhân lên khi tình yêu của họ càng thắm thiết. Một ngày kia, khi người con trai đang ngồi với người yêu của mình trên núi thì nhìn thấy cảnh tượng hai bộ lạc đang đánh nhau rất quyết liệt ở phía dưới. Họ biết tình yêu của họ là nguyên nhân chính. Để tránh đổ máu giữa hai bộ lạc, hai người đau đớn quyết định chia tay và hẹn sẽ gặp nhau mỗi năm một lần đúng vào ngày ấy. Địa điểm gặp nhau tại nơi họ vẫn thường hò hẹn - Khâu Vai. Dần sau đó, Khâu Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khâu Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khâu Vai, người ta cũng có thể mua, bán, trao đổi những sản vật. 
* Tiểu khu Trọng Con 
- Cách đường quốc lộ số 2, 20 km về phía Đông Nam, cách Thành phố Hà Giang khoảng 60 km về phía Bắc ở tại Xã Bằng Hành, Huyện Bắc Quang, Tỉnh Hà Giang (đã được Nhà nước xếp hạng năm 1996). Năm 1945, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí: Lê Quảng Ba, Bế Triều, Nam Long cùng đội vũ trang tuyên truyền tiến về tổng Bằng Hành xây dựng lực lượng cách mạng đặt tên là Tiểu Khu Trọng Con. Tiểu Khu Trọng Con là cái nôi của phong trào cách mạng ở Hà Giang. Từ đây phong trào cách mạng được nhân lên, lan rộng khắp các địa bàn của Tỉnh Hà Giang, từ vùng thấp đến các huyện vùng cao, Tiểu khu Trọng Con đã góp phần vào sự thắng lợi của Cách mạng, giải phóng Hà Giang trong thời gian ngắn, đưa nhân dân thoát khỏi cuộc sống kìm kẹp của thực dân Pháp, Phát xít Nhật cùng bè lũ tay sai. Tạo tiền đề cho sự phát triển tốt đẹp của phong trào cách mạng ở Hà Giang trong những thời kỳ lịch sử sau này.
* Di tích lịch sử Kỳ Đài
- Di tích nằm ở Trung tâm thành phố Hà Giang, nơi đây ngày 27/3/1961 đồng bào các dân tộc Hà Giang đã vinh dự được đón Bác Hồ thăm và nói chuyện thân mật. Di tích Kỳ Đài không những là công trình văn hóa, mà còn là nơi ghi dấu, gìn giữ những kỷ niệm về Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, động viên khích lệ nhân dân Hà Giang làm theo lời Bác Hồ căn dặn, hăng hái tham gia sản xuất, đoàn kết một lòng theo Đảng xây dựng và bảo vệ quê hương Hà Giang ngày càng phát triển. Bia và Chuông chùa Sùng Khánh
* Cửa khẩu Thanh Thủy
- Di tích lịch sử nghệ thuật chùa Sùng Khánh: cách Thành phố Hà Giang 9 km về phía Nam thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang (đã được nhà nước xếp hạng năm 1993). Cách Thị xã Hà Giang 09 km về phía Tây Nam theo trục đường quốc lộ số 2. Chùa nằm trong Thôn Nùng thuộc xã Đạo Đức, địa thế ngôi chùa rất đẹp, phía sau lưng dựa vào dải núi, phía trái có núi hình Rồng Chầu, phía phải có núi hình Hổ Phục, mặt quay về hướng Đông có cánh đồng rộng và dòng suối trong "Thích Bích" chảy qua, xa xa là dòng Sông Lô uốn mình cùng với trục đường quốc lộ số 2. Chùa Sùng Khánh được xây dựng thời Triệu Phong (1356), do thời gian, chùa bị hư hại, đến năm 1989 được nhân dân xây dựng trên nền chùa cũ. Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) ghi lại công lao của người sáng lập ra chùa và một quả Chuô

File đính kèm:

  • docVAN_DUNG_CAC_KIEN_THUC_LIEN_MON_DE_TIM_HIEU_DIA_LI_DIA_PHUONG_TINH_HA_GIANG_20150726_044453.doc
Giáo án liên quan